Thứ Sáu, ngày 29 tháng 1 năm 2016

NHÀ THƠ TẢN ĐÀ - NGƯỜI CHÁN ĐỜI ĐẦY TÂM HUYẾT


Nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939) đã để lại một dấu ấn lớn trong nền văn học Việt Nam với sự nghiệp thơ trác tuyệt và một cuộc đời thật phong phú những sự kiện cũng như những giai thoại đã ảnh hưởng sâu xa đến nhiều thế hệ nhà thơ Việt Nam. Nhà thơ Ngô Quân Miện (1926-2008), trong một tác phẩm in lúc cuối đời đã dành đến ba bài viết về Tản Đà - nhà thơ mà ông hằng ngưỡng mộ và có vinh dự là người cùng quê cũng như được gần gũi nhiều từ những năm thơ ấu. Chúng tôi trân trọng giới thiệu một bài viết của nhà thơ Ngô Quân Miện, cũng là dịp để chúng ta cùng tưởng nhớ đến hai bậc tài hoa của quê hương núi Tản sông Đà. Cũng xin trân trọng cám ơn nhà thơ Vân Long đã có nhã ý chuyển đến cho chúng tôi bài viết này.
Người chán đời ấy là thi sĩ Tản Đà, người đồng hương lớn của tôi mà tôi luôn ngưỡng mộ. Chính ông, trong cuộc sống, đã có lúc tìm cái chết bằng cách tuyệt thực, và trong văn học, đã viết ra những câu thơ chán đời, những câu thơ buồn hay nhất trong thời của ông.
Trong cuộc sống riêng tư, ông đã trải qua nhiều cảnh huống rất đáng buồn. Chú bé Nguyễn Khắc Hiếu lên ba tuổi thì bố là Án sát Nguyễn Danh Kế chết, gia đình bỗng chốc lâm vào cảnh sa sút. Lên bốn, mẹ đẻ là Nhữ Thị Nghiêm, cô đào hát nổi danh ở phố Hàng Thao, Nam Định đã bỏ đứa con trai nhỏ lại cho gia đình nhà chồng, mang theo đứa con gái, trở lại xóm bình khang! Vì thế, từ nhỏ, Hiếu đã rất buồn vì người mẹ. Được người anh con mẹ già là Đốc học, phó bảng Nguyễn Tái Tích nuôi cho ăn học. Đến năm mười chín tuổi, chàng ấm sinh vừa bắt đầu yêu, mê cô gái họ Đỗ ở phố Hàng Bồ - Hà Nội thì bị thất vọng ngay, vì ông anh bảo: "Nhà ta nghèo như thế, lấy đâu được xe song mã mà cưới!".
Đến năm 1912, thi hỏng liền hai khoa: Thi Hương ở trường Nam và thi vào trường Hậu bổ ở Hà Nội. Những nỗi thất vọng dồn dập thành nỗi tuyệt vọng, lại đúng vào lúc cô gái Hàng Bồ lên xe hoa về nhà chồng. Bấy giờ thì cái câu hỏi: "Đời đáng chán hay không đáng chán?" ông chẳng phải chờ "Cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm" cũng tự thấy quá rõ rồi. Mang cái tâm sự ấy, ông lên chùa Non Tiên ở Mỹ Đức, Hà Đông, tế nàng Chiêu Quân. Trong Giấc mộng lớn, Tản Đà đã ghi lại; "Mà chùa Non Tiên là chỗ dùng thân người yếm thế!". Ít lâu sau, ông về ấp Cổ Đằng ở Sơn Tây. Ở đây, ông cảm thấy: "Cái bụng chán đời đến cực điểm, sau quyết mong tịch cốc để từ trần!". Tịch cốc là nhịn cơm, ông nhịn cơm mấy hôm liền, "sầu khổ không thể chịu được nữa", nên phải uống rượu, mà toàn rượu suông. Rồi ông anh - chỗ dựa vững chắc lâu nay - cũng mất, rồi con trai của ông ấy là Tú tài Nguyễn Cống Ngọ (Thân sinh của nhà thơ Nguyễn Văn Phúc) cũng bị bệnh chết. Chỉ trong khoảng mấy năm trời, những nỗi buồn phiền chồng chất, đúng như có lần ông đã viết:
"Sầu không có mối, chém sao cho đứt, sầu không có khối, đập sao cho tan!". Mối sầu ấy, khối sầu ấy chính là mạch nguồn đầy ắp từ đó trào nên thơ ông. Nỗi thất tình đầu tiên đã khiến ông thốt ra: Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em đây chán nữa rồi! (Khối tình con)
Trong bài thơ Chơi Hòa Bình, nỗi đau vì tình lại như đè lên cả tâm hồn và thể xác: Vì ai cho tớ phải lênh đênh/ Nặng lắm ai ơi một gánh tình!/ Non Tượng trời cho bao tuổi lẻ/ Sông Đà ai vặn một dòng quanh.
Tại sao con sông ở đây lại vặn dòng chứ không phải uốn khúc như ta thường thấy? Chúng ta nhìn trên bản đồ thì thấy cả ba con sông Lô, Thao, Đà như ba sợi dây song song từ thượng nguồn Tây Bắc chảy chéo xuống phía Đông nam. Riêng sông Đà đến đúng thị xã Hòa Bình thì lại có một đoạn chảy ngược thẳng lên phía Bắc để đổ vào sông Thao. Vì vậy, đã có thơ chữ Hán: "Chúng thủy giai Đông tẩu, Đà giang độc Bắc lưu". Nghĩa là mọi con sông đều chảy về phía Đông, chỉ có sông Đà chảy về phía Bắc. Đúng cái chỗ ấy ở Hòa Bình là chỗ nhà thơ thất tình đã đến và với nỗi đau của mình, ông đã nhìn thấy con sông bị vặn đi hệt như khúc ruột của mình lúc ấy đang bị ai vặn!
Bài Thúy Kiều lúc ra tu chùa Hoàn Thư là một tiếng thở dài vì mãi không sao thoát ra khỏi nỗi buồn cứ vây riết lấy mình: Sự đời lắm lúc nghĩ buồn tênh/ Can nợ chi theo mãi với tình/ ...Cái số đoạn trường sao quái lạ/ Khéo xoay xoay tít mãi mù xanh.
Trong bài Hơn nhau một chén rượu mời, có chen hai câu chữ Hán nói thẳng ra là đã chán hết mọi sự đời, không úp mở gì nữa: Hồi đầu yếm tận nhân gian sự/ Vô lực nan tùng đế khuyết du.
Nghĩa là: Ngoảnh đầu lại, chán hết mọi việc ở cõi trần. Không có cánh, khó mà lên chơi cửa nhà trời! Thực ra, câu thứ nhất, Tản Đà đã mượn ý của bài tựa Bồ Tùng Linh  để nói nỗi chán đời của mình, câu ấy ở trong bài tựa của Liêu Trai chí dị "Cô vọng ngôn chi cô thính chi" mà ông đã dịch là "nói láo mà chơi, nghe láo chơi". Thời ấy, công khai nói ra giữa thi đàn nỗi chán đời của mình cũng là một điều độc đáo của ông.
Bài thơ chán đời hay nhất của ông, có lẽ là bài Tế Chiêu Quân. Bài này viết bằng chữ Hán, được nhà thơ trào phúng Nễ Xuyên Nguyễn Thiện Kế, tức ông Huyện móm, anh rể nhà thơ, cũng là một người bạn tri kỷ của ông, dịch ra quốc ngữ. Bài thơ khóc cho số phận nàng cung nhân đẹp tuyệt trần của vua Hán bị gả sang Hồ nên đã tự sát, có những câu hay đến mức buồn chết người - sát nhân sầu, như chữ mà Lý Bạch đã có lần dùng: ... Mả xanh còn dấu còn căm/ Suối vàng lạnh lẽo cô nằm với ai/ ... Khóc than nước mắt ròng ròng/ Xương không còn vết, giận không có kỳ.
Tản Đà đã lấy nỗi đau của Chiêu Quân để nói nỗi đau của mình, và đã gắn số phận của mình với số phận của nàng: ... Trời Nam thằng kiết là tôi/ Chùa Tiên, đất khách, khóc người bên Ngô/ Cô với tôi, tôi với cô/ Trước sân lễ bạc có mồ nào đây/ Hồn cô vì có ở đây/ Cho tôi theo với lên mây cũng đành!
Nhà thơ Xuân Diệu đã đánh giá Tản Đà là "người tiêu biểu nhất đưa ra cái Buồn, cái Sầu của chủ nghĩa lãng mạn và đưa ra bằng những văn thơ hay mà những thi sĩ cùng thời với mình không bì nổi". Vì cái sầu ấy mà có người cho thơ Tản Đà là tiêu cực! Về ý kiến này, Xuân Diệu cũng đã lý giải rõ ràng: "Khi đọc thơ văn trong văn học truyền thống trước khi có chính quyền cách mạng, nếu chúng ta thấy ở đâu có Sầu là vội hô lên tiêu cực, nếu chúng ta không hiểu cái sầu trong văn học cũ là chúng ta đánh mất cái chìa khóa, không hiểu gì sất! Trước Cách mạng vô sản, dân chủ nhân dân, là phạm trù các xã hội có giai cấp, vui vẻ, phấn chấn, hứng khởi thế nào được" (Tuyển tập Tản Đà, NXB Văn học 1986).
Chúng ta cũng còn thấy rằng: Thơ Tản Đà không chỉ có cái sầu riêng tư mà còn có cả cái sầu thế sự, cái sầu mang tính xã hội rất rõ, đó là cái buồn vì xã hội ông đang sống, thời buổi ông đang trải qua có biết bao điều đáng buồn, đáng chán. Cái sầu thế sự này, thơ ông đã nói lên được một cách thấm thía, tài tình: Cuộc nhân thế, câu cười tiếng khóc/ Nghề sinh nhai lối dọc, đường ngang/ Đầu xanh ai điểm hơi sương/ Những e cùng thẹn, những thương cùng sầu. (Nói chuyện với ảnh - 1916).
Người có tư cách thì làm sao mà không thẹn, không sầu được trước cảnh: Luân thường đổ nát, phong hóa suy/ Tiết nghĩa rẻ rúng, ân tình ly. (Trần ai tri kỷ).
Chính cái sầu riêng tư đã lên đến cực điểm là muốn quyên sinh đã dồn Tản Đà vào bước đường cùng khiến con người vốn có hoài bão và có tài đã nhận thức ra phải tự mình vượt lên tìm lối thoát, và trong quá trình ấy lại càng cảm nhận được cái buồn thế sự và ý thức được trách nhiệm của mình trước xã hội. Trong Giấc mộng lớn, ông đã viết "Cái tình cảm bi thương trong gia đình, hợp một cái cảnh ngộ bần hàn của thân thế, khiến cho kẻ chán đời chẳng được thời lại phải tùy thời mà sinh nhai lối dọc đường ngang". Thế là ông bắt tay hành động. Năm 1917, ông đã soạn và đạo diễn các vở ca kịch Tây Thi, Thiên Thai, Dương Quý Phi, Người cá với các rạp Thắng Ý ở Hà Nội và Nguyễn Đình Cao ở Hải Phòng. Rồi mấy năm liền, tìm cách vay mượn, in được một loạt những cuốn sách: Khối tình con, Giấc mộng con, Khối tình (chính) Khối tình (phụ), Đài gương kinh truyện, Lên sáu, Lên tám. Cuộc kiếm ăn khá chật vật nhưng cũng nhờ những vở kịch, những cuốn sách đó mà nói lên được những nỗi niềm, những ước vọng của mình. Cũng lúc đó, trong mấy năm liền, ông để thì giờ vào hai việc: đi chơi và học. Đi chơi rất nhiều tỉnh ở Bắc, Trung, Nam, vừa để giải trí, vừa để lo công việc làm văn, làm báo. Học bằng cách đọc rất nhiều sách Tân thư của Trung Quốc dịch từ sách của các nước Thái Tây để biết nhiều cái mới trên thế giới. Những cuộc đi và học ấy càng giúp cho ông thấy rõ, hiểu rõ đồng bào mình hơn, đất nước mình và xã hội mình đang sống hơn, cũng lại mở rộng tầm nhìn xa rộng hơn sang các chân trời khác. Cũng nhờ vậy, là một nhà nho, nhưng Tản Đà lại có được những ý tưởng và cảm xúc mới, so với nhiều nhà nho cùng thời.
Từ cái trữ tình lúc đầu còn nặng về riêng tư, ông đã dần dần mở rộng ra cái trữ tình xã hội, theo cách nói ngày nay là trữ tình công dân, rung động và cảm khái nhiều và sâu sắc về những vấn đề liên quan đến vận mệnh của nhân dân, của Tổ quốc trong đó có mình. Từ đó trong thơ ông, cả hai thứ trữ tình xen kẽ và tương tác lẫn nhau. Cái trữ tình của ông mang tính nhân bản sâu sắc.
Tản Đà luôn luôn ôm ấp hoài bão được lo toan, gánh vác việc đời, việc dân, việc nước, cả việc thế giới nữa, mặc dầu cuộc mưu sinh vô cùng chật vật: Khắp bốn phương trời không thước đất/ Địa cầu những muốn ghé bên vai. (Khai bút - 1920).
Đọc câu trên đất, ngày nay chúng ta có thể nghĩ đến hình tượng thần Atlas đỡ cả bầu trời trên vai mình, nhưng thời Tản Đà, đó là một tứ thơ rất mới! Rồi: Lo nước, lo nhà, lo thế giới/ Còn thêm lo nợ nghĩ chưa ra/ (Khai bút - 1921).
Và: Lửa đốt lòng son câu thế sự/ Gương soi tóc trắng nỗi sầu tư.  (Ngày xuân tương tự).
Trong nhiều bài thơ, Tản Đà thường hay nói đến nỗi lo bạc đầu. Quả thật, ông là người bạc đầu rất sớm. Mới hơn bốn mươi tuổi mà người làng đã gọi là cụ Ấm. Ông bắt đầu thể hiện được rất rõ cái hoài bão muốn gánh vác việc đời, việc nước từ lúc nắm lấy được một phương tiện hữu hiệu để hoạt động, đó là từ năm 1921, ông làm chủ bút báo Hữu Thanh. Trong bài "Đề báo Hữu Thanh" số đầu ra mắt bạn đọc, có những câu: Tạp chí ra đời gọi Hữu Thanh/ Chim tìm tiếng bạn mượn đề danh/ ... Hai mươi nhăm triệu đồng thanh cả/ Hữu ái mong ai một chút tình.
Hữu Thanh, chữ Hán nghĩa là tiếng bạn. Ông muốn lấy đây làm chỗ cất tiếng gọi đàn, để 25 triệu đồng bào cùng một lòng vun đắp sự nghiệp chung. Bìa báo có vẽ ba cô gái Bắc, Trung, Nam đứng nhìn một đàn chim cùng bay lượn. Dưới tranh đề mấy câu thơ: Trung, Nam, Bắc, chị cùng em/ Chị em trông đó, con chim gọi đàn/ Chim kia còn biết gọi đàn/ Chút tình hữu ái chị bàn cùng em.
Ngòi bút Tản Đà có cái tài là những bài thơ kêu gọi như vậy vẫn đầy tình cảm tha thiết dễ khiến người đọc động lòng. Tờ báo này là cơ quan của "Hội Ái Hữu Trung Bắc Kỳ nông công thương tương tế", nhóm Nguyễn Huy Lợi và Nguyễn Mạnh Bổng mời Tản Đà ra làm chủ bút. Nhưng, chỉ được sáu tháng, ông không đồng ý kiến với nhóm đó về phương hướng và nội dung báo nên bỏ đi. Ông hoạt động mạnh nhất là thời kỳ An Nam tạp chí (A.N.T.C). Năm 1926 tờ báo ra đời có bài thơ Sông Cái thuyền nan ví tờ báo là chiếc thuyền nan mà ông là người chèo lái, ý muốn nói lên cái ước vọng được chèo chống việc đời, việc nước: Nghìn trùng sóng gió ba khoang nứa/ Bốn mặt non sông một mái chèo.
Trong một bài thơ mừng Tết 1927, ông viết: Tết năm Đinh Mão ta mừng xuân/ Ta có thơ mừng khắp quốc dân/ Trước biết ái quốc, sau hợp quần.
Ông chúc các giới đồng bào làm những việc "công ích", giúp "đồng bang", rồi chúc nước nhà: Trời Nam hoa thảo xuân vô tận/ Đất Bắc giang sơn vận bất cùng.
Trên mặt báo này ông chĩa ngọn bút nhọn sắc vào những kẻ quan lại đục khoét, bòn rút của dân đen. Như bài Nhắn Từ Đạm đả kích tên tuần phủ Ninh Bình khét tiếng ăn của đút đã vô liêm sỉ cho đục vào đá núi Non Nước một bài thơ Nôm: Trăng gió vui cùng hắn/ Lầm than mặc kệ ai/ Ham chơi non với nước/ Có phúc được ngồi dai!
Hắn còn cho đục vết hai bàn chân của mình trên đá. Tản Đà thấy thế, phẫn nộ, bèn thuê thợ khắc ngay bên cạnh đó bài thơ dưới đây, sau đó cho đăng lên báo: Năm ngoái, năm xưa đục mấy vần/ Năm nay, quan lại đục hai chân/ Khen cho đá cũng bền gan thật/ Đứng mãi cho quan đục mấy lần. (A.N.T.C - 1926)
Tản Đà biết tin tuần phủ Vĩnh Yên là Đào Trọng Vận, nhận một vụ kiện đã ăn đút gần ba nghìn đồng. Số tiền ấy vào năm 1927 có giá trị rất lớn. Ông đã gợi ý cho Ngô Tiếp viết truyện Tờ di chúc nói về vụ này, rồi ông viết bài thơ Cảm đề mỉa mai: Hơi đồng đã sạch mồm ông lớn/ Mặt sắt còn bia miệng thế gian!
Đặc biệt đáng chú ý là bài thơ ông viết về vụ ăn hối lộ của Tri phủ Anh Sơn (Nghệ An): Thái Bình chưa dứt tiếng kêu oan/ Lại tiếng kêu trời ở Nghệ An/ Một phủ Anh Sơn trong mấy tháng/ Mà tay Phan Tử lấy ba ngàn/ Cùng phường dối nước quân ăn cắp/ Cũng lũ tàn dân giống hại đàn/ Lạnh lẽo hơi sương tòa tạp chí/ Lệ ai giàn giụa với giang sơn! (Cảm đề - A.N.T.C -1927).
Đây không phải là bài thơ đả kích thông thường mà là một bài thơ trữ tình đầy lòng nhân ái. Nhà thơ yêu thương và xót xa đồng bào chân thành từ đáy lòng và căm ghét bọn tham quan ô lại tận xương tủy, cho nên khi nói đến đồng bào thì lời thơ thống thiết đầy xúc động, khi nói về bọn quan lại gian ác thì mỗi câu như một mũi dùi nhọn sắc đâm vào tâm can chúng. Đây là một loại trữ tình mang tính xã hội sâu sắc.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương cho biết thì A.N.T.C số 10 năm 1927, có bài văn Một cuộc chiến tranh khởi đầu từ năm Đinh Mão (tức năm 1927), trong đó Tản Đà sắp xếp các lực lượng quốc dân thành các đạo quân tiến trên mặt trận văn hóa - kinh tế mưu cầu tương lai dân tộc. Vì thế, báo bị chính quyền Pháp bắt đình bản. Nhưng rồi Tản Đà cũng đã xoay xở mọi cách cho tờ báo được tái bản lần thứ hai, thứ ba, cho đến lần thứ năm. Nếu ở thời kỳ Hữu Thanh, nhà thơ mới chỉ cất tiếng chim gọi đàn thì ở thời kỳ đầu của A.N.T.C ông đã dám chèo lái con thuyền nan trên sông Cái, và sau này ông đã nói lên hoài bão muốn đứng trên Chiếc tàu An - Nam: Bốn bể năm châu náo cuộc đời/ Con tàu bảo quốc chị em ơi/ ... Hỏi thăm Âu, Mỹ không bờ bến/ Mở máy quay guồng quá độ chơi!
Đến đây thì ta thấy cái tầm nhìn, tầm nghĩ của nhà nho đã vượt hẳn trước đây, muốn được mắt thấy tai nghe những nền văn minh Âu - Mỹ ở các châu lục khác. Ấy thế mà ông vẫn khiêm nhường nói mình là "hủ nho!".
Trong A.N.T.C số 25 năm 1932, có in Bài ca cổ bản. Hồi ấy Tản Đà lên Lao Kay tìm Nguyễn Công Hoan nhưng không gặp - Nhân lúc anh em công chức người Việt tổ chức diễn kịch giúp đồng bào Nghệ Tĩnh bị hạn hán và bão lốc, ông viết luôn bài ca này để hát ngay trong buổi diễn: Quanh vùng Nghệ Tĩnh liền nhau/ Nắng thiêu đồng mạ, hư hại vườn rau/ Dân tình khó khăn, đói cùng nhau// ... Nhìn người hơn, ngắm vào ta/ chung lòng hợp dạ, xum bọc giống nhà/ Giống Tiên Rồng may mà...
Có năm, dân các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Bình bị lụt lớn, ông đã có bài Khuyên người giúp dân bị lụt rất thống thiết trước cảnh đồng bào bị khốn cùng: ... Lệ đầy vơi, tình chia phối/ Bồng bế con thơ bán khắp nơi/ Năm hào một đứa trẻ lên sáu/ Cha còn sống, con bồ côi.../ ... Hai chữ đồng bào ân nghĩa nặng/ Đùm nhau lành rách hỡi ai ơi!
Hai chữ đồng bào ân nghĩa nặng. Có lẽ từ trước chưa có ai nói về một nội dung tình cảm và đạo lý của hai chữ "đồng bào" thấm thía như vậy. Đó là tiếng thổn thức từ một trái tim chân thành yêu thương nhân dân mình như người cùng máu mủ ruột rà. Đây cũng là một bài thơ nữa tiêu biểu cho cái trữ tình xã hội của thơ Tản Đà.
Có một hiện tượng này nữa trong thơ yêu nước của Tản Đà mà không thể bỏ qua được, ấy là một loạt bốn bài thơ Bức địa đồ rách. Ở đây, cái trách nhiệm thiêng liêng của mỗi người dân phải kế tiếp gìn giữ, bồi đắp giang sơn, đất nước mà cha ông xưa đã để lại luôn luôn là nỗi day dứt trong lòng ông: ... Biết bao lúc mới công gìn giữ/ Sao đến bây giờ rách tả tơi. (Bài 1 - Tập Còn chơi - 1921).
... Còn sông, còn núi, còn ta đó/ Có lúc ta bồi, các bạn coi. (Bài 2 - Đông Pháp thời báo)
Những bài này viết trên Đông Pháp thời báo của Diệp Văn Kỳ vào những năm sau khi An Nam tạp chí bị đình bản lần thứ nhất (1927), ông tạm thời vào Nam cộng tác với ông Diệp.
Cũng không thể không nhắc lại bài thơ nổi tiếng Thề non nước ông viết từ năm 1920. Tác giả mượn mô-típ "nguyện nước thề non" của tình yêu đôi lứa để nói lên tình yêu tha thiết đối với non sông, Tổ quốc. Những từ non non, nước nước được láy đi láy lại một cách nhuần nhị như một nỗi niềm canh cánh bên lòng, cảm xúc đằm thắm khó quên. Đây là một bài thơ trữ tình lớn, có thể coi như một bài Kinh cầu nguyện thuộc lòng của nhiều người Việt Nam yêu nước trong nhiều năm đất nước bị thực dân thống trị: ... Dù cho sông cạn đá mòn/ Còn non, còn nước hãy còn thề xưa.
Có thể nói thơ Tản Đà, nếu trong bước đầu, còn nhiều nặng nề về trữ tình riêng tư thì càng về sau, từ khi vượt qua được khủng hoảng tinh thần dữ dội ấy, đã ngày càng mở rộng ra phía trữ tình công dân, trữ tình xã hội, rung động và cảm khái nhiều về số phận của nhân dân và vận mệnh của Tổ quốc. Nói cho thật đúng thì không nên tách rời hai loại trữ tình ấy. Cái yêu, cái sầu, cái mộng, cái ngông cả riêng và chung thường hòa quyện với nhau rất tinh tế trong thơ ông. Ông là nhà thơ rất thành thực với chính bản thân mình nên trữ tình riêng tư của ông rất thấm thía mà trữ tình công dân cũng rất sâu nặng.
Thơ Tản Đà đã khẳng định ông là một nhà thơ trữ tình lớn và một nhà yêu nước đầy tâm huyết.
(Nguồn: Tạp chí Thơ, Hội nhà văn Việt Nam)

TRẦN THANH GIAO – NHƯ CÁNH HẠC BAY

. Dẫu biết quy luật một đời người cuối cùng rồi cũng phải trở về với cát bụi, nhưng cái tin nhà văn Trần Thanh Giao quy tiên đối với tôi vẫn là quá đột ngột. Tôi không thể tin được cây đại thụ của văn nghệ, báo chí Việt Nam đã giã biệt cõi đời này. Tôi cảm thấy ông vẫn còn đấy. Con người ông nhỏ thó và rắn rỏi, khuôn mặt với những nếp nhăn của thời gian và tuổi tác vẫn không giấu được đôi mắt tinh anh, ánh nhìn nhạy bén cùng với nét cười răng khuyết rất đặc biệt. Vẫn là người đàn ông mà sự hiểu biết toát ra từ ánh nhìn ban đầu bạn tiếp xúc đến giọng nói chậm rãi, giàu trải nghiệm, cẩn trọng trong từng câu chữ và luôn luôn hài hòa, với phong thái lịch thiệp của một người đã kinh qua Tây học. 
Nhớ lần đầu gặp ông vào năm 1996 tại Hà Nội, hai năm trước khi tôi được là đại biểu Hội nghị Những người viết văn Trẻ toàn quốc lần thứ V (1998). Chúng tôi cùng uống trà ở một tiệm trà thanh lịch, nằm khá sâu trong một cái ngõ nhỏ, gần với hồ Trúc Bạch. Trước đó, tôi đã đọc khá nhiều tác phẩm của ông. Lúc bấy giờ, ngồi trước mặt tôi đích thực là nhà văn Trần Thanh Giao bằng xương bằng thịt, và chúng tôi bàn về những bài báo, bài ký, tiểu luận hoặc phê bình văn chương Đông, Tây, kim, cổ của ông. Văn của ông thật rất ăn khớp với người. Giọng cười của ông cũng thật đa dạng, lúc thì mủ mỉ kín đáo, lúc lại cao hứng như thác nước đổ.
Nhà văn Trần Thanh Giao (bên phải) và nhà thơ Bùi Tuyết Mai
 2. Trong những tranh luận bên ly trà của chúng tôi, có khi cứ trở đi, trở lại vấn đề “nóng” của đời sống văn nghệ: Để có tác phẩm hay. Tôi nhớ những đúc kết của ông đọng lại. Người-Văn ấy đã tìm thấy ngọc và lấy đó làm ánh sáng để soi chiếu vào những trang viết của mình, và cũng để phần nào giúp cho những người bạn văn cùng chia sẻ, bàn luận và lựa chọn cho mình một hướng đi:
- Dẫu biết văn chương là để giãi bày nỗi niềm, số phận, thu hút sự ham mê của người đọc, nhưng giãi bày để làm gì, câu trả lời là để nâng đỡ con người, làm cho nó cao thượng lên chứ không làm cho nó hèn đi, thấp đi.
- Nỗi niềm và số phận của một kiếp người có hàng ngàn, hàng vạn, vẽ ra được đã là khéo, nhưng tư tưởng nhân văn của tác phẩm về những nỗi niềm và số phận, mới là cái khó tìm, khó vẽ, mới là cái có giá trị nhất trong văn chương.
- Vẽ mây, vẽ gió được đã khéo, nhưng vẽ cho đến mức Non cao non thấp mây thuộc/ Cây cứng cây mềm gió hay như Nguyễn Trãi mới thật khó, mới thật hay, mới là nét vẽ của bậc thiên tài. Cho nên từ xưa, hiện nay và sau này vẫn vậy, văn chương hay, nhất là văn xuôi, không thể chỉ có nỗi niềm và số phận, mà trên nỗi niềm và số phận là một tư tưởng nhân văn sâu sắc, và những vẻ đẹp làm mê mẩn lòng người.
- Đã đến lúc cùng nhau nêu ra định nghĩa: tác phẩm hay là tác phẩm làm rung động sâu sắc, lâu bền trái tim người thưởng thức vì những giá trị chân thiện mỹ mà nó chứa đựng.
Năm 2015, ngay trong Đại hội Nhà văn, tôi nhận được món quà quý của ông. Đó là cuốn Tiểu luận phê bình của Trần Thanh Giao, Cánh hạc & Tiếng chuông, Nxb Hội Nhà văn, 2014. Bìa phụ là dòng chữ bút mực còn tươi rói, ông đề Thân tặng Bùi Tuyết Mai và cẩn thận ghi Hà nội 2015 rồi ký tên. Cùng với cuốn sách là một chiếc đồng hồ nữ mạ vàng rất đẹp, rất thanh lịch, viền kim loại màu vàng, mặt và dây đeo màu đỏ nâu tía, lấp lánh ánh bạc ẩn phía trong khung kim giây chạy, là tháp Effel. “Anh mua nó trong một chuyến thăm Thủ đô Paris, nước Pháp. Tặng em!” Tối hôm đó, rất khuya, sau khi ngồi cùng cánh nhà văn trẻ từ miền núi phía Bắc, tôi mới lần giở từng trang cuốn cảo thơm  này của người bạn vong niên. Tôi đã thức luôn đến sáng với cuốn sách, tìm thấy trong đó những ký ức về cuộc trao đổi của chủ nhân cuốn sách với mình từ thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, hiện cũng nằm trong cuốn sách.
Cuốn sách này của ông, tôi luôn luôn mang theo để đọc mỗi khi có thì giờ. Và chiếc đồng hồ ấy, cũng trở thành vật bất ly thân của tôi, kể từ khi ông tặng.
3. Ông đặc biệt yêu thích cuốn Mái Tây của Vương Thực Phủ. Lại nhớ, một dịp ông ra Hà Nội họp, chúng tôi có hai ngày đi lên Mường. Đi lên tỉnh Hòa Bình, một địa danh nổi tiếng của người Việt cổ, với ông đây là một dịp “rất đáng để tiêu thời gian vào đó!”. Chúng tôi đi đại tứ Mường: Nhất Bi (huyện Tân Lạc), nhì Vang (huyện Lạc Sơn), tam Thàng (huyện Kỳ Sơn và Cao Phong), tứ Động (huyện Kim Bôi), bốn vùng Mường cổ nhất, lớn nhất của Việt Nam tại tỉnh Hòa Bình. Cũng trong chuyến đi này, tôi được biết cái bút danh Song Văn của anh là do anh rất yêu thích Mái Tây của Vương Thực Phủ mà ra. Ông khuyên tôi nên đọc cuốn ấy, vì cái kịch ấy cũng đã hay, nhưng lời bình của Kim Thánh Thán sau mỗi chương là những chỉ dẫn vô cùng hữu ích cho những người viết văn có tài năng - những người “thợ trời”.
Nhà văn Trần Thanh Giao (bên phải) vànhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ
4. Mỗi lần tôi có tác phẩm được đăng Báo Văn Nghệ, hoặc trên các diễn đàn, ông đều đọc thấy và là người cho nhận xét. Chúng tôi có những người bạn chung, một trong số họ là nhạc sĩ tài danh Nguyễn Tài Tuệ. Lần gặp gỡ gần đây nhất của chúng tôi cũng tại Đại hội Nhà văn (2015). Buổi tối, chúng tôi đến thăm nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ tại nhà riêng, phố Khương Trung, Hà Nội. Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy hai ông già ôm nhau một cách vô cùng mừng rỡ và đằm.
Hóa ra, họ từng quen và dõi theo nhau từ năm 1976. Khi ấy, Nhà báo Trần Thanh Giao đã gặp và phỏng vấn nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ, Trưởng phòng Nghệ thuật của Đoàn Ca Múa Nhạc Việt Nam, nhân dịp nhạc sĩ đưa đoàn văn nghệ sĩ, diễn viên vào Thành phố Hồ Chí Minh biểu diễn mừng một năm thắng lợi, non sông thu về một mối.
Hai ông đều thuộc hàng “Tây học trong nước lớp đầu” từ trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Trần Thanh Giao học ở Cần Thơ, Nguyễn Tài Tuệ học ở Sài Gòn. Cả hai đều phát âm và dùng rất chính xác văn phạm tiếng Pháp, nhưng lại rất thống nhất với nhau về quan điểm, quan niệm sáng tác. Do có công cụ ngôn ngữ tiếng Pháp trong tay, đồng thời lại có vốn cha mẹ để lại là chữ Hán và chữ Nôm, cả hai có điều kiện để tìm đọc sâu, học hỏi kỹ các giá trị văn học và âm nhạc của phương Đông, phương Tây. Trong cuộc gặp gỡ hiếm hoi ấy, tôi đã được nghe tiểu kết của Trần Thanh Giao: Nếu như cái thuyết cốt lõi của văn học phương Tây là chủ nghĩa nhân văn (humanisme; humanism) thì trong thơ văn Việt Nam có thuyết “nhân nghĩa” (humanité et loyauté; bennevolence and righteousness) đồng thời được bổ sung thêm các giá trị nhân bản khác.
Nếu cứ dõi theo hệ thống các tác phẩm của Trần Thanh Giao - Dòng sữa (truyện ngắn, 1962); - Đi tìm ngọc (truyện 1964, 1972, 1987, 2002); - Cầu sáng tiểu thuyết 1976, 1985); - Đất mới vỡ (tiểu thuyết 1978, 1981); - Giữa hai làn nước (truyện 1979); - Sao Mai gần gũi (truyện và ký 1983); - Một vùng sông nước (truyện 1985); - Thị trấn giữa rừng Sác (bút ký 1985); - Bầu trời thềm lục địa (bút ký 1986); - Câu chuyện một chiều thứ bảy (truyện ngắn 1987); - Một thời dang dở (tiểu thuyết 1988, 1992); - Thời áo trắng (tiểu thuyết 1995, 2002); - Tuyển tập truyện ngắn (2002); - Ai vượt Cửu Long Giang (bút ký 2003); - Ai tri âm đó… (phê bình, tiểu luận, 2003), - Văn học TP.HCM 1975 – 2005 (nghiên cứu, khảo luận…, 2008), - Chuông chùa (truyện ngắn 2011); - Cánh hạc & Tiếng chuông (phê bình, tiểu luận, 2014)… Đồng thời, cũng luôn luôn nghe vang lên trên làn sóng các phương tiện đại chúng những tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc của Nguyễn Tài Tuệ (trên 30 tác phẩm) thắm đượm chất trữ tình và nhân văn được phát triển từ âm nhạc dân gian Việt Nam đi rất xa…  có thể thấy rất rõ ý thức, trách nhiệm sâu sắc của họ với đất nước, với dân tộc. Tôi vẫn nhớ, Trần Thanh Giao đã nhấn mạnh với Nguyễn Tài Tuệ trong buổi tối đáng ghi nhớ ấy: Trong các tác phẩm thanh nhạc của anh, tôi thấy những bán cung, nửa cung lẽ ra là rất Tây, vậy mà anh đưa vào cứ ngọt và vô cùng thuần Việt trong Mùa xuân gọi bạn, Suối mường Hum còn chảy mãi, Xa khơi, Mơ quê, trong Tiếng hát giữa rừng Pác Bó v.v.. Có cả câu xuống xề của cải lương trong Xôn xao bến nước nữa! Rồi những bản Rondo sonata, concerto, operette, v.v.. của ông đậm đà chất nhạc Việt. Tóm lại, nếu nói cách tân về hình thức thì cha ông ta cũng đã làm nhiều, và làm thành công… Nếu ta đừng sùng ngoại, đừng hám của lạ, tự hào về cha ông mình thì ta cũng có thể nêu ra “luận thuyết”, đóng góp vào những thuyết chung, có ích cho sự phát triển nhận thức của con người về bản chất của văn học nghệ thuật và cuộc sống.
Trần Thanh Giao, Nguyễn Tài Tuệ và tôi, cả ba cùng yêu thích Chức cẩm hồi văn của Tô Huệ, một tác phẩm thơ “siêu hình thức” cách nay đã hơn 2000 năm. Rồi tiếp sau đó, là những kiệt tác nhân loại như Iliade, Odyssée, cùng với các tác phẩm của những tác gia hàng đầu của nhân loại như Shakespeare, Cervantes, Dante, Goethe, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… Để qua việc đọc những kiệt tác đó mà bồi đắp chiều sâu nội lực cho mình trong sáng tạo và tiếp nhận những giá trị mới của văn học nghệ thuật.     
5. Cái tin ông ra đi vào ngày 10 Tháng Chạp khiến tôi bị bất ngờ. Tôi không thể tin nổi một cái cây cổ thụ đã đổ xuống, vận vào lời Thôi Hiệu, Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản (Hạc vàng một đi không trở lại), bài thơ sinh thời Trần Thanh Giao hằng yêu thích và lấy đó làm dấu tích của cuốn tiểu luận phê bình cuối cùng, dồn tụ nhiều tâm huyết. Một khoảng trống của văn đàn không bù đắp được. Tuy biết từ nay tôi sẽ không bao giờ nhận được những dòng cảm xúc tươi rói của ông qua email nữa. Tôi vẫn thấy nụ cười trẻ trung của ông. Sự nhiệt tâm xốc vác. Ông vẫn như còn đó, với ba lô, laptop và máy ảnh, sẵn sàng cho một chuyến đi mới.
Hà Nội, những ngày áp Tết Bính Thân 2016
Theo vanvn.net

ÁNG MÂY TRẮNG XỨ ĐOÀI QUANG DŨNG

Không hiểu vào cái năm một ngàn chín trăm tám sáu, khi Quang Dũng đang nằm trong bệnh viện, nhà thơ Trần Lê Văn giúp Quang Dũng dựng tập Mây đầu ô, hai ông có kịp bàn bạc gì không về  việc đặt tên cho tập thơ? Nghĩa là cho đến ngày hôm nay, khi mà cả đôi bạn thơ này khuất núi, chúng ta vẫn không thể biết được tên tập thơ do chính Quang Dũng lựa chọn hay do tự ý Trần Lê Văn đặt.
SINH RA ĐỂ LÀM MỘT KIẾP MÂY
 Nhưng dù ai đặt cho tập thơ cái tên ấy thì quả là "tay cũng già". Nó mới hợp, mới đúng làm sao con người Quang Dũng, thi nhân Quang Dũng! "Một lời là một vận vào khó nghe", Mây đầu ô.  Vâng, “Mây ở đầu ô mây lang thang, Mây ở đầu ô- Hẹn những chân trời xa lạ, Ta mê xanh thẳm- Như cánh chim trời…”. Mây đầu ô, tôi cứ nghĩ đó là một cái tên đích đáng đến nỗi khó lòng có thể chọn một hình ảnh nào vừa đúng vừa hợp vừa hay vừa đẹp đến thế dành cho người thơ Quang Dũng. Mây đầu ô là tập thơ riêng duy nhất của ông ra đời lại đúng vào lúc nhà thơ ngã bệnh (1986). Bài thơ Mây đầu ô trong tập được chọn làm tên tập thơ được viết năm 1970, lúc mà nhà thơ đã vào lớp tuổi năm mươi, tuổi tri thiên mệnh. Thực ra thì không phải chờ đến lúc ấy mới có mây. Hình ảnh mây đã ám vào số phận thi ca này như một định mệnh, như một phán quyết của thượng giới vô hình không thể cưỡng lại được ngay từ hồi mới bước vào nghiệp thơ kia.  Nhưng lúc đó làm sao ông có thể hiểu được tiền vận hậu vận của chính mình. Ông cứ làm một áng mây trắng xứ Đoài hồn nhiên lang thang từ làng ra phố, hết phố lên rừng, rồi lại từ rừng về phố. Để cho đến hôm nay, vào tuổi 50, mới ngộ ra cái phận mình y như một áng mây lang thang không hơn không kém.
   Nói  Quang Dũng mang phận mây ngay từ đầu là có cơ sở. Một trong những bài thơ đầu tiên, được coi thành công nhất, tạo dựng ngay lập tức cái tên Quang Dũng giữa làng thơ Việt Nam hồi kháng chiến là bài Tây Tiến được viết năm 1948, đã thấy có một cồn mây sừng sững bị cái mũi súng chọc thủng hướng lên trời (Heo hút cồn mây súng ngửi trời). Ngay sau đó, hễ mỗi khi có thơ về vùng quê xứ Đoài chôn rau cắt rốn thì thể nào cũng lại có áng mây trắng thi ca bay vào (Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm).
Nhìn vào thời gian các bài thơ ra đời ở trên kia, suốt hành trình thơ Quang Dũng, mây đã trở thành một ám ảnh bền bỉ với nhiều biến hoá. Bản chất của mây là di chuyển và biến hình, tức là mang tính động. Nó đối lập với sự đứng yên và hằng định. Không gian tồn tại của nó có thể là vũ trụ vô biên (bầu trời), hoặc là không gian xã hội- lịch sử hữu hạn (đất nước, quê nhà). Khi đi vào văn chương, mây là một hình ảnh mang số kiếp lang thang và có khả năng hoá thân thành nhiều dáng hình khác, hàm chứa nhiều ý tưởng phong phú. Kinh nghiệm văn hoá phương Đông cho thấy mây đã từng biến hoá thành những vân cẩu (chó mây- chỉ sự thay đổi nhanh chóng của cuộc đời), phù vân (mây nổi- chỉ sự coi thường  giàu sang), hoặc những vân cù (đường mây), vân đài (đài mây), vân nghê (mây và cầu vồng), vân thụ (mây và cây)…và được sử dụng dầy đặc trong những văn cảnh khác nhau với những nét nghĩa  khác nhau của văn chương trung đại. Tuy nhiên, do có được cảm quan về tính mức độ, và cũng do xuất phát từ một ý hướng tự nhiên- biết lựa chọn những gì phù hợp nhất với mình- hồn thơ Quang Dũng tập trung biểu đạt hình ảnh mây chỉ với hai cấp độ nghĩa: quê nhà và cá nhân nhà thơ. Ban đầu mây là một hình ảnh thực gắn liền với sông núi quê hương. Dần về sau, mây đã chuyển hoá thành thân phận cá nhân thi sĩ. Khi mây là hình ảnh quê hương, không có gì là lạ. Cảm thức văn hoá phương Đông đã từng coi mây trắng là hình ảnh quê nhà. Nhưng đến khi Quang Dũng ví phận mình như mây trắng đầu ô với nhiều khao khát được lang thang thì ông đã bứt ra khỏi từ trường của truyền thống để trở thành một sáng tạo độc đáo. Và nhờ thế, hình ảnh mây khi bay vào chân trời biểu tượng đã được mở rộng thêm nhiều tầng nghĩa. Mây hay chính là hồn thơ Quang Dũng trong hình dáng của mây đã lang thang phiêu du một chặng liền năm mươi năm có lẻ giữa rộng dài đất nước. Một điều thật nhất quán là: cả con người tiểu sử nhà thơ, cả hành động sáng tạo thơ và cả thế giới nghệ thuật thơ Quang Dũng đều châu tuần vào mây, hoá thân vào mây và cũng biến hoá cùng  mây.
ÁNG MÂY TRẮNG MANG HÌNH TRÁNG SĨ
Sinh ra giữa thời tao loạn, một trí thức bình thường có quốc sỉ nào cũng đều không chịu nổi  ách nô lệ ngoại bang. Thế là, như bao bạn bè cùng trang lứa từ Hà Nội, Quang Dũng cũng đã xếp bút nghiên lên đường đánh giặc. Lúc đó họ đang còn rất trẻ, mới mười tám đôi mươi. Họ nhìn ngắm cuộc đời hồn nhiên, giản dị lắm, chẳng tính toán gì. Bước vào cuộc kháng chiến, họ nhìn chiến tranh như nhìn vào một nơi sa trường tràn đầy hùng khí của các cuộc chiến trinh thời cổ đại. Thì đấy thôi, người lính vào chiến trận với một ý chí “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, dáng dấp của họ thật oai phong như một chiến binh lẫm liệt (Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc- Quân xanh màu lá dữ oai hùm), ngay cả cái chết cũng coi nhẹ tựa lông hồng (áo bào thay chiếu anh về đất), nơi đóng quân cũng phảng phất bóng hình  đồn trú thưở nào (Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa- Kìa em xiêm áo tự bao giờ- Khèn lên man điệu nàng e ấp- Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ)…Cảm thấy như có cái hùng khí của các cuộc giao tranh  thời Chiến quốc vậy.
Quang Dũng viết không nhiều về chiến tranh, nhưng hễ cứ có bài nào thì chiến tranh lại hiện ra theo cái cung cách huyền sử như vậy. Cũng những đêm trăng suông lạnh, những lúc chuyển quân, những đêm sinh hoạt nơi đồn trú, vừa có cái im ắng đông lại đến ngột thở, lại vừa có cái vui say náo nức, bỡ ngỡ mở ra đến vô bờ:
 Những làng trung đoàn ta đi qua
Tiếng quát dân quân đầu vọng gác
Vàng vọt trăng non đêm tháng chạp
Nùn rơm- khói thuốc- bạch đầu quân
Tự vệ xách đèn chai lối xóm
Khuya về chân khoả vội cầu ao
Nghe tiếng sung rơi miệng chiến hào
Bờ tre cây rơm thôi tịch mịch
Vỡ lá bàng khô bước du kích
(Những làng đi qua)
 Âm hưởng và tư thế đẹp, thơ mộng, hùng tráng là thế!
Tuy nhiên, ai cũng phải thừa nhận rằng chân dung người chiến sĩ trong thơ Quang Dũng cùng với cái ngang tàng, hùng tâm tráng chí, lắm khi lẫm liệt, nhưng cũng lại rất mơ mộng, lãng mạn, tài hoa. Nghĩa là có một sự hoà điệu giữa con người tráng sĩ và con người thi sĩ. Nó như là hai phẩm chất âm dương hài hoà vậy. Cảm thức đối cực này chi phối rất mạnh trong cách tạo dựng hình ảnh thơ theo lối vừa mới tận cùng dương đã lại tận cùng âm, khiến người đọc hết sức bỡ ngỡ và thú vị. Vừa cao tột cùng là thấp tột cùng: “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” ; vừa dữ dội tột cùng đã lại mơ mộng tột cùng: “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới- Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, vừa mới động gắt đã lại tĩnh lặng: “Tiếng quát dân quân đầu vọng gác- Nghe tiếng sung rơi miệng chiến hào”; vừa mới khốc liệt dữ dội : “Chiều chiều oai linh thác gầm thét/ Đêm đêm Mường hịch cọp trêu người”, đã lại tình tứ thanh bình: “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói- Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”…Cảm thức đối cực âm dương còn để lại dấu ấn khá rõ cả trong cấu trúc thanh âm (trắc- bằng) giữa các dòng thơ: Trong thơ Quang Dũng có vô số những cặp đôi âm dương với “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống- Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, hoặc trong nội bộ câu thơ: “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi, Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”… nhiều kiểu dáng như vậy. Vừa hào hùng vừa hào hoa (chữ của Chu Văn Sơn), tráng sĩ và thi sĩ, cứ thế nở hoa thành những câu thơ đứng vào hàng tuyệt bút.
Con người tráng sĩ này một khi đã ra đi là bất chấp gian khổ,  bất chấp cái chết. Y như câu tuồng cổ: Gian nan là nợ, anh hùng phải vay. Thế nhưng, đi vào chiến trường mà biết đùa với cả bệnh tật, nguy nan, thậm chí cái chết, thì tất cả những đe doạ ấy có gì là đáng sợ nữa. Cái sợ đã bị hoá giải từ gốc. Rất lạ, bước vào chiến tranh mà lại cứ như thả bước chân phiêu lãng giang hồ. Chiến tranh với những gương mặt tử thần rình rập, đâu phải thích hợp cho cái máu phiêu lưu? ấy thế mà cứ hăm hở như không vậy:
Thôi nhé miền xuôi! Thôi tạm biệt
Cống chéo- Đồng Xuân thề một chết
Hàng Gai tay bỏng trục "ba càng"
Đất cũ Thăng Long người lẫm liệt.
Đó là những con người yêu nước. Nhưng họ yêu nước theo cái cung cách của lứa tuổi mười tám đôi mươi nhuốm chất Kinh Kha sang Tần thích khách thuở nào. Chẳng làm sao. Thế mới là tuổi trẻ. Chẳng có gì thiếu chân thực ở chỗ này cả. Ngược lại, nó đã thể hiện thật đúng cái tư thế trẻ trung, náo nức, cái hùng tâm tráng chí lên đường của một thế hệ thanh niên đô thị những năm đầu kháng Pháp.
Thì ra vẫn là một đám mây mang hình tráng sĩ phiêu bồng vào trận mạc. Cả một lớp người trí thức đô thị xếp bút nghiên lên đường chinh chiến sau mùa đông năm bốn sáu ấy trong cái nhìn của nhà thơ đều là những đám mây mang hình tráng sĩ. áng mây Quang Dũng hoà lẫn trong đội hình ấy.
ÁNG MÂY SÀ XUỐNG CÕI NHÂN GIAN
Trong đời Quang Dũng có một nàng thơ vô cùng đẹp đẽ, đó là "cô gái vuờn ổi" - Em mãi là hai mươi tuổi. Cũng tại do cái máu xê dịch giang hỗ viễn xứ mà "chàng" đã làm khổ người ta, để suốt đời ân hận: “Bỏ em anh đi- Đường hai mươi năm- Dài bao chia ly…”. Theo như nhà thơ Trần Lê Văn cho biết "Quang Dũng có yêu một cô gái vườn ổi vì nhà cô có một vườn ổi thơm nức mùa hoa mùa quả. Cô thuộc một dòng họ quý tộc nhưng lại tân tiến như những cô gái tân tiến kiểu mẫu trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thời ấy(…). Về nhan sắc thì những bức tranh thiếu nữ của Tô Ngọc Vân hiện nay còn để lại có thể cho ta một hình ảnh của cô: dịu dàng, tươi mát, dễ làm cho người ta lâng lâng say. Quang Dũng thanh niên xuất hiện ở vườn ổi, gây chấn động trong tâm hồn cô gái".  Cũng nhà thơ Trần Lê Văn cho biết, có lần gặp lại người xưa, Quang Dũng viết ba bài thơ liền, một bài có tên là Vườn ổi, hai bài Không đề. Đọc bài Không đề lòng không khỏi ngậm ngùi:
Sông ơi! Dài sao
Rộng ơi! Biển cả
Thôi em nước mắt
Đừng rơi lã chã
Nhưng đó quả là một mối tình đẹp đến mức thành cổ điển, nghĩa là muối mặn gừng cay đấy, nhưng vô cùng thanh khiết, cao quý. Thôi thì chẳng có được nhau trong đời, hãy "Giữ trọn tình người cho đẹp". Đó là một mối tình thơ, không gợn một chút nào tục luỵ. Đó là áng mây trắng tình yêu che mát cho hai tâm hồn cách trở. Trong đời hễ ai có được một mối tình như Quang Dũng, tôi tin họ sẽ sống đẹp lên, tốt lên nhiều lắm. Đôi người ấy, tuy rất xa nhau, nhưng luôn biết vì nhau mà gìn giữ, sống sao cho đẹp, "Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời".
          Nhưng cõi nhân gian này không phải chỉ có toàn những điều tốt đẹp. Do thời tiết chính trị một thời, nên những câu thơ đẹp một cách vô tội, nghĩa là vô cùng hiền lành, tình tứ cũng bị quy cho là tiêu cực. Thí dụ: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Hay như bài thơ “Lính râu ria” cũng chịu chung số phận. Bài thơ tả anh lính xa nhà, một hôm ra quán hàng gặp chị chủ quán vừa ôm con nhỏ vừa bán hàng, người lính bế đứa bé giùm, lòng tràn ngập yêu thương, bỗng chạnh nhớ vợ con mình. Thế rồi người lính mua một chút rượu để giải sầu:
Chị ơi! Ly rượu nhỏ
Rượu nhỏ một ly thôi
Một ly cho đỏ mặt
Cho lên hương cuộc đời
Còn hình ảnh cô bán quán thì:
Khi anh đã về xa
Chị dọn hàng đi ngủ
Chép miệng trong hơi chăn
Chị buồn chi không rõ.
Thơ Quang Dũng cứ đi vào những tâm hồn tinh tế, thăm thẳm như thế nên bị cho là phức tạp là phải. Bước vào cuộc kháng chiến cái gì cũng cần mạch lạc, đơn giản, càng đơn giản càng tốt. Ngày ấy nó thế! Người ta khoanh những vùng kiêng kỵ như tình yêu, nỗi buồn, cái chết, những khoái thú cá nhân…Thế là, từ bấy trở đi, suốt đời con người này bị nghi kỵ, được dùng đấy nhưng không bao giờ được tin, bởi người ta không tin cái người quen hưởng thụ, tiểu tư sản như vậy! Đã thế lại còn có một thời gian lần mò sang tận Trung Quốc, rồi mang cái dớp Quốc dân đảng nữa chứ. Đến khổ. Thật là tình ngay lý gian. Tai bay vạ gió. Kêu ai cho thấu? Cũng là tại cái phận mây trắng cả. Chả biết tự vệ là thế nào. Chỉ biết phiêu du và thả thơ vào giữa mây trời.
          Nhà văn Thanh Châu, năm nay cụ đã 94 tuổi ta, cũng là chỗ bạn thân của Quang Dũng, có lần kể cho tôi nghe một câu chuyện tôi không bao giờ quên được. Số là ngày ấy các gia đình viên chức đều phải có sổ gạo, tức là sổ cấp cho từng hộ gia đình để đi mua gạo theo tiêu chuẩn nhà nước hàng tháng. Người ta gìn giữ sổ gạo cẩn trọng hơn cả giữ vàng.Vì lý do nào đó mà chẳng may mất sổ gạo thì thật là tai hoạ, rất lâu mới có thể làm lại được bởi tệ giấy tờ, tệ quan liêu "hành là chính", và như thế có thể phải đi chạy gạo, vay ăn từng bữa  (cái bi kịch này được đúc vào trong một câu tục ngữ mà đến nay vẫn nhiều người con nhớ: Mặt nghệt như mất sổ gạo). Các gia đình khác cũng có nhiều nhặn gì đâu, cũng theo sổ gạo, nên dù thương bạn đến mấy cũng chẳng có mà cho vay mãi. Đành đi mua gạo chui đắt đỏ hơn vàng. ấy thế mà Quang Dũng do cái tính đãng trí nên có lần đã đánh mất sổ gạo. Thật là hoạ vô đơn chí. Mất sổ gạo thì đành ăn ít đi, vay giật tạm rồi tìm cách làm lại sổ. Thôi thì bao nhiêu gánh nặng áo cơm vốn đã cơ hàn giờ đây lại dồn vào người vợ. Bà phải gồng lên kiếm tiền nuôi chồng và 3 đứa con nay đau mai ốm. Quang Dũng đau khổ, thương vợ nhưng chả có cách nào giúp vợ. Ngày ấy người ta nhìn thấy ông người cao lênh khênh, tóc trắng bồng bềnh, đẹp lão không để đâu cho hết, hôm nào cũng vậy, khoác trên lưng một cái bao tải to từ công viên bước đi trong tư thế chui chúi lao về phía trước lặng lẽ trên đường trở về nhà lúc chừng sáu giờ sáng. Hoá ra ông đi bộ dưỡng sinh ngoài công viên, rồi tranh thủ quyét lá khô mang về đun, để đỡ tiền mua chất đốt. Hoá ra ông làm thế như nhằm cái ý chuộc lỗi với vợ con, như một sự trừng phạt chính mình. Tráng sĩ ơi, tráng sĩ giờ đây đã rụng kiếm gãy cung, trông như một tiều phu u uất. Thương thay!
MÂY TRẮNG VỀ TRỜI
Rồi thì ai cũng đến lúc phải lìa cõi sống. Đám mây trắng xứ Đoài chẳng may gặp cơn bạo bệnh. Tráng sĩ nằm trong bệnh viện râu tóc, áo sống một màu trắng tinh, ngỡ tưởng đám mây trắng sà vào phòng bất chợt. Mấy tháng đầu ông không nói được. Chỉ nhìn vợ con, bạn bè và khóc. Mấy tháng sau, ông lại chỉ có cười, cái cười trẻ thơ, hài đồng, tinh khôi vô kể. Rồi đến một  lần, ông đưa đôi mắt dịu dàng nhìn vợ con lần cuối, xong rồi ông dừng lại ở gương mặt người bạn thơ thân thiết Trần Lê Văn, tự nhiên ông nói được hai tiếng: "ông Văn!", nói xong liền tắt thở. Ông đã ra đi vĩnh viễn. Hồn thi nhân đã thành áng mây trắng thoát xác về trời. Điều kỳ lạ là, ánh nhìn cuối cùng không dừng ở chỗ nào mà lại dừng vào gương mặt bạn thơ, có phải ông đã không quên đem theo về cõi vĩnh hằng một thế giới thơ ca, một nghiệp chướng thơ ca mà ông không thể dứt, mà ông đã từng  hạnh phúc, khổ đau, hứng chịu nhiều hệ luỵ vì nó. ấy là thoạt tiên nghĩ thế, nhưng nghĩ lại cũng chưa chắc. Một con người có cái đức đãng trí, cũng lại là một người làm thơ chả bao giờ có ý thức vun quén, tạo dựng cho mình cái gọi là sự nghiệp bao giờ, thế thì khi về cõi bên kia chắc gì ông đã nhớ ra là mang theo thơ phú đi cùng! Có thể nói trong nền thi ca Việt Nam hiện đại, ít có người nghệ sĩ nào  làm nghệ thuật một cách vô tư, siêu thoát, "tiên thi" đến  thế. Bao nhiêu thơ phú, tranh vẽ, bài hát mà ông sáng tác cứ vương vãi tận đẩu đâu, không bao giờ nhớ, không bao giờ có ý sưu tập lại. Đến nỗi, khi nhà thơ Trần Lê Văn đứng ra làm cho tập thơ riêng và cái tuyển, ông đi lục tìm, gom nhặt như tìm di cảo của người đã khuất: Cứ lãng đãng mây trời như thế mà lại thành sự nghiệp. Ngược lại, có những người cứ chăm chắm xây xây đắp đắp, tô son điểm phấn cho mình mà đâu có vị trí gì. Nhìn bằng con mắt nghề nghiệp, dẫu sao Quang Dũng cũng là người sung sướng. Không thể nói là đã có một sự nghiệp bề thế, số lượng văn phẩm thì cũng thường thường, ấy thế mà Quang Dũng cứ có một chỗ đứng chắc nịch trong nền thơ ca hiện đại. Cái tình thơ và cái tài thơ quyết định tất cả. Chẳng biết những ý nghĩ cuối cùng của thi nhân là gì, nhưng có lẽ điều này là có thực: ông tiếc cõi sống, tiếc cõi thơ, tiếc không còn được làm áng mây trắng bay giữa nhân quần cùng đất nước, tiếc phải vĩnh viễn xa lìa hết thảy. Tôi tin rằng, nếu ở thế giới bên kia được làm lại từ đầu, Quang Dũng lại chọn làm người thơ, làm nghệ sĩ. Không thể khác.
Sống ở giữa một nơi “Ôi chật làm sao- Góc phố phường”, con người vốn khoáng hoạt ấy không chịu nổi, cứ lại đi về một vùng quê tuổi thơ bên dòng sông Đáy, nơi ấy có “Đôi mắt người Sơn Tây - U ẩn chiều lưu lạc- Buồn viễn xứ khôn khuây”; có “Mắt em như giếng nước thôn làng”; nơi những năm bom đạn, Quang Dũng đã cất lên lòng yêu da diết, yêu đến xót đau:
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng
Ôi, cái vùng quê thanh bình, óng ả, thơm tho biết bao. Thơ Quang Dũng có rất nhiều địa danh, bởi hễ cứ đi đến đâu là gắn bó ở đấy, nhớ nhung về đấy, là quê hương mãi đấy. Tây Tiến, Những làng đi qua là vậy. Nhưng các địa danh nhiều nhất vẫn là vùng xứ Đoài mây trắng quê hương. Nào là Bất Bạt, Bương Cấn, Sài Sơn, Phủ Quốc, Ba Vì, sông Đáy, Tích Giang, Vật Lại…Nhà thơ có tài chuyển hoá những địa danh bình thường, quê kiểng như mọi vùng quê khác thành những tên thơ. Một không gian xứ Đoài nghèo khó mà nhân hậu qua Quang Dũng thành một không gian thơ tình tứ, quyến luyến vô cùng. Phải có tâm hồn lớn, một tài thơ lớn mới có thể nhào nặn những chất liệu thô ráp của đời sống thành chất liệu thơ ca. Điều vừa nói ở trên không phải nhà thơ nào cũng muốn là được. Những cái tên vùng, tên đất trong thơ Quang Dũng là những hoá thân từ một tên chung: Đất Nước.
Quang Dũng vẫn hiện nguyên hình một bản chất mây: phiêu du tới những chân trời xa lạ. Đã mang kiếp thi nhân, mỗi lần lang thang chân trời góc bể mà bắt được một bài thơ đẹp đến nhường này thì khối người thèm muốn mà không có. Lần này thì áng mây trắng xứ Đoài Quang Dũng bị bắt quả tang: một mái tóc đẹp nào đấy níu áng mây đậu lại. Chẳng qua cũng một  nòi tình. Cái gien tình xứ Đoài có tính di truyền đã từ Tản Đà chảy mạnh mẽ trong hồn Quang Dũng. Bây giờ thì áng mây trắng Xứ Đoài Quang Dũng vẫn cứ lãng đãng ngang trời, phủ một bóng mát lớn xuống nền thơ Việt Nam hiện đại.

Xuân thi ca 2015 – Gặp gỡ thi nhân Việt Nam đương đại

“Xuân thi ca 2015” là chương trình gặp gỡ thi nhân Việt Nam đương đại do Thi đàn Việt Nam tổ chức sáng 08/02/2015 tại Hội trường Cung triển lãm Kiến trúc, Quy hoạch Xây dựng Quốc gia (Mễ Trì, Từ Liêm Hà Nội).
Chương trình có sự hiện diện của nhiều nhà thơ tên tuổi của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội như Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Hữu ước, Vũ Duy Thông… Trung tướng Phạm Tuân, NSND Quang Thọ, NSND Thanh Hoa, lãnh đạo Viện KHNC Nhân tài Nhân lực, lãnh đạo các báo, tạp chí và hơn 700 tác giả thơ từ khắp mọi miền tổ quốc.
PGS.TS Đàm Đức Vượng (ngoài cùng bên trái) - Viện trưởng Viện khoa học nghiên cứu Nhân tài Nhân lực trao tặng thưởng cho các hội viên tiêu biểu năm 2014
Đây là một chương trình được tổ chức với quy mô lớn, các tiết mục nghệ thuật được dàn dựng công phu: những bài thơ được phổ nhạc và nổi tiếng trong nhiều thập kỉ qua; trình diễn thơ với chủ đề “Mùa xuân tình yêu”, những câu thơ tài hoa của những nhà thơ, tác giả thơ đương đại; thực hiện trao quỹ từ thiện cho người già neo đơn, trẻ em mồ côi, hội viên còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống; vinh danh những tác giả thơ tiêu biểu của Thi đàn Việt Nam trong năm qua, và đặc biệt là trao giải cuộc thi thơ với chủ đề “Xuân thi ca 2015”. Cuộc thi này có 01 giải Nhì, 03 giải Ba và 05 giải Khuyến khích, không có giải Nhất.
Nhạc sĩ Đoàn Bổng (ngoài cùng bên trái) trao giải khuyến khích cho các tác giả tham gia cuộc thi thơ "Xuân thi ca 2015"
Thi đàn Việt Nam hiện trực thuộc Viện Khoa học nghiên cứu Nhân tài Nhân lực, trong thời gian qua đã trở thành một diễn đàn kết nối, giới thiệu những người yêu thơ, sáng tác thơ chuyên và không chuyên trên cả nước.
 Một số hình ảnh của chương trình "Xuân thi ca 2015":
Tiết mục văn nghệ chào mừng chương trình
Nhà thơ Vũ Quần Phương chia sẻ hoàn cảnh sáng tác bài thơ "Đợi"
PGS.TS Đàm Đức Vượng trao quà tặng của Thi đàn Việt Nam cho các hội viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
NSND Quang Thọ và NSND Thanh Hoa trong tiết mục trình diễn thơ chủ đề Mùa xuân - Tình yêu
Tiết mục "Tổ quốc gọi tên mình" - Thơ Nguyễn Phan Quế Mai, do nghệ sĩ Hồng Liên và CLB Cựu chiến binh Hà Nội biểu diễn
Tiểu phẩm vui về Thi nhân Việt Nam
NSND Thanh Hoa với ca khúc "Mùa xuân đầu tiên" của nhạc sĩ Văn Cao
Các tác giả tiêu biểu của Thi đàn Việt Nam năm 2014

Tôi không coi du học sinh là người tài

Tài năng là một con đường dài được đánh giá thông qua những giá trị họ tạo ra sau này, chứ không phải là 4, 5 năm học tập và sinh sống ở nước ngoài. 
Hôm trước, tôi hỏi một cậu bạn: “Nếu trả lương cao để mày về quê làm thì mày có về không?”. Nó trả lời dứt khoát trong vòng chưa đầy một giây: “Không, kể cả làm ở Hà Nội chỉ đủ sống, tao cũng phải bám trụ chứ không về quê".
Tôi thắc mắc hỏi nó tại sao, vì làm ở Hà Nội hay ở quê cuối cùng cũng chỉ để kiếm tiền, trong khi lương ở quê cao hơn, lại được gần gia đình. Nó trả lời: “Làm ở Hà Nội mới có cơ hội phát triển. Về quê để ngu người à?”. 
Chủ đề du học sinh "nên về nước lập nghiệp hay không" nhận được nhiều sự quan tâm. Nhiều người chỉ trích họ không trở về trong khi đất nước đang cần người tài, rồi quy chụp họ không có "lòng yêu nước".
Tôi cực ghét những người mang luận điệu "lòng yêu nước" ra để kết án người khác một cách đầy phiến diện. Nó giống như kiểu lấy cái chết ra để đe dọa đồng ý yêu vậy. Có được thể xác nhưng mãi mãi sẽ chẳng thể có được tâm trí họ ở bên. 
Tôi không coi những người đi du học là tài năng, họ chỉ giống như tôi mà thôi. Cơ hội để học hỏi từ bên ngoài, có thể tích cực mà cũng có thể tiêu cực, quan trọng là họ biết chắt lọc để tiếp thu thế nào nhằm phát triển bản thân mà thôi. Còn tài năng là một con đường dài, được đánh giá qua những giá trị họ tạo ra sau này chứ không phải chỉ đánh giá qua 4, 5 năm học tập và sinh sống ở nước ngoài.

Việc đóng góp, phát triển đất nước bắt nguồn từ chính những việc đổi thay của mỗi cá nhân, chứ không thể chỉ phụ thuộc từ những người tài năng và giỏi. Bản thân mỗi người tốt lên vậy là đủ rồi. Mỗi cá nhân trong xã hội tốt lên, ắt cả xã hội sẽ đi lên. 
toi-khong-coi-du-hoc-sinh-la-nguoi-tai
Các du học sinh có ý định ở lại nước ngoài hãy cứ làm ở lại, kiếm thật nhiều tiền vào.
Những du học sinh đều có quyền được mưu cầu phát triển bản thân, mong mỏi những điều tốt đẹp đến với mình. Con người là vậy, luôn mong muốn tiến tới những môi trường tốt nhất để mỗi ngày hoàn thiện mình. Vậy cớ sao việc họ ở lại một nơi có môi trường tốt hơn lại là việc đáng lên án?
Dĩ nhiên, họ đi bằng chính tiềm lực tài chính gia đình thì họ sẽ chẳng bị ràng buộc bởi trách nhiệm phải trở về sau khi tốt nghiệp. Và tôi tin rằng ai cũng đều mong muốn được đóng góp, dựng xây đất nước.
Tôi từng đọc được một bài báo đề cập đến nguồn lực tài chính từ hơn 4,5 triệu USD mà Việt kiều gửi về đất nước còn lớn hơn cả nguồn vốn ODA. Những năm gần đây, số tiền đổ về gần 15 tỷ USD, chiếm gần 10% GDP. Đó là họ mới chỉ gửi một khoản tiền nhỏ mà thôi, nếu về Việt Nam, có lẽ con số gần 15 tỷ USD  mỗi năm sẽ chẳng bao giờ có được để đóng góp.
Thế nên, các du học sinh có ý định ở lại nước ngoài hãy cứ ở lại làm, kiếm thật nhiều tiền vào. Biết đâu ngày nào đó Việt kiều còn đóng góp GDP hơn cả của đất nước. Ấy chẳng phải đáng mừng sao?
Về làm gì khi miếng cơm còn tranh nhau thì của đóng góp lấy đâu ra?

Du học sinh Mỹ về nước chê 'lương 10 triệu quá thấp'

Các bạn nên bỏ lối suy nghĩ rằng du học sinh giỏi hơn sinh viên trong nước. Không phải cứ du học sinh là phải nhận lương cao hơn lao động tại Việt Nam.

Qua bài viết Nhiều du học sinh khó tìm được việc khi về nước, tôi muốn chia sẻ một số ý kiến như sau:
Tôi đã từng nói chuyện với một bạn du học sinh Mỹ trong lần em ấy về Việt Nam (lúc đó chắc đang học năm hai đại học). Khi bạn ấy hỏi tôi: "Sau này về Việt Nam, anh có thể giới thiệu việc làm cho em hay không? Mức lương khoảng bao nhiêu?".
Tôi đã tư vấn một vài công việc lẫn những công ty nước ngoài có tên tuổi và phù hơp với bạn ấy, mức lương có thể hơn 10 triệu đối với du học sinh mới ra trường... Nghe xong, bạn ấy ra vẻ thất vọng và chê mức lương đó là thấp, rồi có ý "thà tìm việc ở nước ngoài hơn là về Việt Nam".
Tôi cũng có dịp tiếp xúc với rất nhiều du học sinh và hầu hết họ đều có cùng suy nghĩ như trên, điều đó khiến tôi thấy hơi buồn cười xen lẫn thất vọng.
Tôi không hy vọng các bạn du học sinh sau khi tốt nghiệp sẽ về đóng góp cho đất nước, vì với tôi, đóng góp cho xã hội, cho thế giới nói chung cũng đã đáng quý lắm rồi.
Tuy nhiên, các bạn nên bỏ lối suy nghĩ: Du học sinh giỏi hơn sinh viên trong nước. Không phải cứ du học sinh là phải nhận lương cao hơn lao động tại Việt Nam, không hẳn cứ đi nước ngoài là biết tất cả...
Tôi đã làm việc với nhiều du học sinh, trường quốc tế, thật sự ngoài khả năng ngoại ngữ vượt trội, chỉ có khoảng 50% là đạt yêu cầu về chuyên môn và đặc biệt có chừng 80% là không đạt yêu cầu về nhân cách, ứng xử.
Các bạn được trang bị nền tảng tốt, kinh nghiệm quốc tế... tại sao không dám cạnh tranh ngang bằng với lao động trong nước? Nếu các bạn thật sự có tài, sẽ không ai đối xử tệ. Người ta nhìn một con người dựa vào thành công mà anh ta đạt được trong công việc, chứ không phải là mức lương mà người đó nhận được các bạn ạ.

Thông tin tổng hợp

Sự kiện

Nhân tài

Nghiên cứu khoa học

Nguồn nhân lực

Sức khỏe cộng đồng

Sách hay cần đọc

Giới thiệu thơ

Thư giãn vài phút

Truyện cực ngắn

Đào tạo