Thứ Tư, 23 tháng 10, 2019

Cao Bá Quát - Thi sĩ lừng danh

Gông dài!Gông dài!
Mày biết ta chăng?
Ta chẳng có gì đáng hợp với mày cà!
Mày biết thế nào được ai phải ai trái!
Mày chẳng qua chỉ là cái máy làm nhục người đời mà thôi...

Kết quả hình ảnh cho Cao_Bá_Quát

Cao Bá Quát (1809-1854). Danh sĩ đời Tự Ðức, tự Chu Thần, hiệu Cúc Ðường, quê Phú Thị, huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Con của ông đồ rất hay chữ tên gọi là Cao Cử Chiếu. Dòng giõi họ Cao đời đời khoa bảng xuất thân. Lừng danh nhất là Cao Bá Hiền làm đến Binh bộ Thượng thư triều Lê kiêm chức Tham tụng phủ Chúa Trịnh.

Từ thuở nhỏ ông đã rất thông minh dĩnh ngộ

Năm 1831, ông 22 tuổi, đậu á Nguyên trường thi Hà Nội, nhưng thi Hội 2 phen đều bị đánh hỏng, ông không buồn thi cử nữa, ngao du non nước.

Năm 1841, quan đầu tỉnh Băc Ninh đề cử ông với triều đình, ông được triệu vào kinh sung chức Hành tẩu bộ Lễ. ít lâu sau được cử chấm thi ở trường Hương tỉnh Thừa thiên, ông và bạn đồng sự là Phan Nha dùng khói đèn chữa một ít quyển văn hay mà phạm huý, toan cứu vớt người tài. Việc bị phát giác, ông bị kết vào tội chết, nhưng Triệu Trị giảm tội cho ông, chỉ cách chức và phát phối vào Ðà Nẵng.

Gặp khi có sứ bộ Ðào Trí Phú sang Tân Gia Ba công cán, ông được tha cho theo sứ bộ đi lập công chuộc tội. Xong việc trở về, ông được phục chức cũ, rồi thăng làm chủ sự.

Năm 1854, ông phải đổi lên Sơn Tây, làm Giáo thọ ở phủ Quốc Oai. Ông buồn và căm phẫn quyết chí theo làm quân sư cho Lê Duy Cự chống lại triều đình. Việc khởi nghĩa ở Mi Lương thất bại, ông bị bắt rồi bị hành quyết cùng với 2 con trai năm ông 45 tuổi.

Ông còn để lại cho đời bộ sách Chu thần chi tập. Thơ ông dù bằng chữ Hán hay quốc âm đều rất hay. Những bài ca trù của ông cũng xuất sắc. Tên tuổi của ông được nêu cao với văn học nước nhà.


Tác phẩm để đời của văn nhân

Ngay sau khi cuộc nổi dậy ở Mỹ Lương (tỉnh Sơn Tây) bị thất bại (1855-1856), các tác phẩm của Cao Bá Quát đã bị triều đình nhà Nguyễn cho thu đốt, cấm tàng trữ và lưu hành, nên đã bị thất lạc không ít. Tuy vậy, trước 1984, nhóm biên soạn sách Thơ văn Cao Bá Quát, đã tìm đến kho sách cổ của Thư viện Khoa học kỹ thuật trung ương (Hà Nội), và sau khi loại trừ những bài chắc chắn không phải của ông, thì số tác phẩm còn sót lại cũng còn được trên ngàn bài được viết bằng thứ chữ Nôm và chữ Hán.

Cụ thể là hiện còn 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi, gồm 11 bài viết theo thể ký hoặc luận văn và 10 truyện ngắn viết theo thể truyền kỳ. Trong số này về chữ Nôm, có một số bài hát nói, thơ Đường luật và bài phú Tài tử đa cùng (Bậc tài tử lắm cảnh khốn cùng). Về chữ Hán, khối lượng thơ nhiều hơn, được tập hợp trong các tập:

Cao Bá Quát thi tập
Cao Chu Thần di thảo
Cao Chu Thần thi tập
Mẫn Hiên thi tập

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2019

Trần Nhật Duật - Danh tướng và vương tử tài hoa

Lịch sử Việt Nam đời Trần ghi đậm rõ nét của bao anh hùng tuấn kiệt như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật.. Mỗi người có những sắc thái riêng biệt, tất cả tạo thành một dãy ngân hà soi sáng trong vòm trời đât Nam. Riêng Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, không những là một tướng tài chống Nguyên-Mông mà là một trong những nghệ sĩ danh tiếng nhất đời Trần.

Kết quả hình ảnh cho trần nhật duật

Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (1254 - 1330) là con thứ sáu của vua Trần Thái Tông, tuy là vương tử nhưng đời sống rất xuề xòa, phóng khoáng, dễ tiếp xúc và không câu nệ. Chúng ta biết ông nhiều trong lịch sử kháng chiến chống nhà Nguyên-Mông Cổ xâm lăng lần thứ hai ở trận Hàm Tử (cửa Hàm Tử, Khoái Châu, Hải Hưng). Ông chỉ huy trận chiến thắng lừng lẫy này dọn đường cho trận chiến thắng Chương Dương của các danh tướng Trần Quang Khải và Trần Quốc Toản. Thái sư Trần Quang Khải đã đề bạt trong niềm vui sướng quê hương hết bóng thù:

Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ cửu giang san

(Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước cũ nghìn thu)

Làm quan trải qua bốn đời vua làm đến chức Thái sư nhưng lúc nào cũng có tinh thần phóng khoáng và độ lượng. Ông là một nhà nghệ sĩ giỏi và rất say mê âm nhạc, đã sáng tác rất nhiều khúc nhạc, lời ca, điệu múa. Ở dinh ông không ngày nào không mở cuộc chèo hát hay bày trò chơi, thế mà không ai cho ông là say đắm niềm vui mà quên công việc (1).

Giỏi âm nhạc, ông cũng có niềm say mê đặc biệt các ngôn ngữ nước ngoài, rất thích chơi với người nước ngoài, tìm hiểu phong tục, tập quán, văn hóa và triết lý của ho. Từ Thăng Long, ông thường cưỡi voi đến chơi thôn Đa-da-li - một thôn gồm người Việt gốc tù binh Chăm Chiêm Thành (Champa) , sau gọi trệch là thôn Bà Già, có lẽ ở mạn Cổ Nhuế, Từ Liêm - có khi ba bốn ngày mới về. Văn hóa Chăm nhất là về âm nhạc, triết lý không những lôi cuốn ông mà có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội, văn hóa Việt Nam trong các triều đại Lý, Trần. Các điệu nhạc cung đình, chèo và quan họ trong dân gian đều có nguồn gốc ảnh hưởng từ văn hóa Chăm Chiêm Thành (2) (3). Một số kiến trúc chùa đình thời Lý-Trần trong giai đoạn này cũng có mang nét ảnh hưởng kiến trúc Chiêm Thành như một số hình tượng chim thần Garuda (3). Triết và đạo lý giữa hai dân tộc Việt Nam-Chiêm Thành cũng giao lưu và ảnh hưởng nhau. Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông lúc về hưu cũng đã thân hành không ngại đường xa qua Chiêm Thành bàn bạc, học hỏi và sống chung như anh em với vua quan Chiêm Thành trong một thời gian (2).

Nhà nghệ sĩ Trần Nhật Duật có tiếng là người học rộng, thiệp liệp sử sách nhất kinh thành và rất ham thích đạo giáo, thường khi mặc áo lông và đội mũ giống như đạo sĩ. Ông tìm hiểu triết lý của nhiều dân tộc khác ngoài Chiêm Thành. Ông hay đến chơi chùa Tương Phụ, nói chuyện với nhà sư người Tống, ngủ lại rồi về.

Khách nước ngoài đến kinh sư, thường được ông mời đến chơi nhà, nếu là người Tống, thì ngồi đối nhau, đàm luận suốt ngày. Sử gia Nguyên triều (Mông Cổ) tưởng ông là người Chân Định (Hà Bắc, Trung Quốc) chính cống. Nếu là người Chiêm hay người các dân tộc khác, ông đều theo quốc tục của họ mà tiếp đãi vì ông đã hiểu và tiếp thu văn hóa của ho.

Khi nhà Tống mất, năm 1274 Hồi Hột, đem 30 thuyền cùng binh lính, vợ con đến Đại Việt xin thần phục. Tất cả đều được phép ở kinh thành. Có người như Trần Trọng Vi được Thánh Tông trọng đãi, quyết tâm “Lưu lạc thà làm ma nước Việt”, chết đi được vua làm thơ điếu (4). Sau này trong quân của Trần Nhật Duật chống Mông Cổ có đạo quân Tống với quân phục Nam Tống dưới trướng. Khi quân Mông giáp trận với Trần Nhật Duật, các tướng sĩ Mông Cổ ngạc nhiên và sợ hãi tưởng nhà Tống đã trở lại. Đây là một tác động tâm lý đánh vào quân Nguyên Mông Cổ và quân cựu-Tống dưới quyền Nguyên góp phần vào sự thua trận của quân Mông ở các trận như Hàm Tử mà Trần Nhật Duật lãnh đạo.

Năm 1280, vua quan Triều thần được tin chúa đạo Đà Giang, miền núi Tây Bắc, Trịnh Giác Mật tụ họp dân nổi lên chống lại triều đình. Lúc này nhà Nguyên cũng đang sửa soạn đại binh đánh Đại Việt. Đất nước đang trong tình trạng khẩn trương trước hiểm họa ngoại xâm lớn lao. Để tập trung tâm trí và sức lực đối phó với quân Nguyên, vua Trần Nhân Tông sai Trần Nhật Duật làm An phủ sứ Đà Giang để giải quyết gấp rút sự cố nghiêm trọng này. Vị vương tử trẻ mới 27 tuổi này, dưới cờ hiệu "Trấn thủ Đà Giang", làm lễ ra quân lên đường đi Tây Bắc. Ông đã chinh phục tù trưởng Trịnh Giác Mật bằng phong tục "ăn bằng tay, uống bằng mũi" và được các dân tộc miền núi yêu mến như sau:

Biết được quân triều đình đến, chúa Đà Giang là Trịnh Giác Mật định ám hại nên sai người đưa thư dụ Trần Nhật Duật rằng: "Giác Mật không dám trái lệnh triều đình. Nếu ân chủ một mình một ngựa đến gặp, Giác Mật xin ra hàng ngay". Muốn thu phục được Giác Mật, Trần Nhật Duật mặc các tướng can ngăn, một mình một ngựa đến gặp chúa Đà Giang, chỉ mang theo mấy tiểu đồng cắp tráp đi hầu. Thản nhiên đi giữa rừng gươm giáo và đám lính dân tộc miền núi sắc phục kỳ dị cố ý phô trương để uy hiếp, Trần Nhật Duật nói với Giác Mật bằng chính ngôn ngữ và theo đúng phong tục rất ngan ngạnh chí khí của dân tộc vùng Đà Giang:

“Lũ tiểu đồng của ta khi đi đường thì nóng tai trái, vào đây thì nóng tai phải.”

Trịnh Giác Mật và các đầu mục đều kinh ngạc trước sự am hiểu tiếng nói và tục lệ của Trần Nhật Duật. Khi mâm rượu, có bầu rượu và dĩa thịt nai muối, được bưng lên, Trịnh Giác Mật đưa tay mời có ý thách thức. Ông không chút ngần ngại cầm thịt ăn rồi vừa nhai vừa ngửa mặt, cầm gáo rượu bầu từ từ dốc vào mũi hết sức thành thạo như người địa phương. Trịnh Giác Mật kinh ngạc thốt lên: "Chiêu Văn Vương là anh em với ta".

Trần Nhật Duật đáp lại "chúng ta từ xưa nay vẫn là anh em". Trần Nhật Duật sai tiểu đồng mở tráp lấy ra những chiếc vòng bạc trao cho từng đầu mục Đà Giang. Những người cầm đầu đạo Đà Giang hoan hỉ đón lấy tặng phẩm kết nghĩa theo đúng tục lệ của họ từ tay Trần Nhật Duật mà họ vừa nhận làm anh em. Đà Giang đã được quy thuận như thế: không đổ một giọt máu, không mất một mũi tên.

Trong chuyến đi trấn an Đà Giang này, Trần Nhật Duật cũng được một người Mường tên là Ma Văn Khải tặng một quyển sách dật sử viết bằng Man ngữ do tổ 5 đời là Ma Văn Cao soạn nói về cuộc đời của người Thổ tên Hoàng Quỳnh dưới triều Lý Thần Tông. Trần Nhật Duật sau này dịch từ Man ngữ ra chữ Hán với nhan đề “Lĩnh Nam dật sử” năm 1297. Đây là một bộ sách viết theo lối tiểu thuyết dài Trung hoa rất ly kỳ chia ra làm 28 hồi, giống như tiểu thuyết kiếm hiệp hiện đại, rất có giá trị về phương diện dân tộc, địa lý tư tưởng và văn hóa học (6). Trần Nhật Duật sau đó đã cùng Trịnh Giác Mật và vợ con về kinh thành gặp vua (5).

Thời vua Trần Nhân Tông, sứ giả sứ Sách Ma Tích (?, có lẽ là Sri Vijaya ở vùng đảo Sumatra) sang cống, không tìm được người phiên dịch. Cả Thăng Long chỉ có một minh Trần Nhật Duật dịch được. Đó là vì từ thời Thượng hoàng Trần Thái Tông, chàng vương tử Trần Nhật Duật đã chịu khó giao du với họ và học được tiếng nước họ rồi. Vua Nhân Tông thán phục, thường nói đùa: "Chiêu Văn vương có lẽ không phải người Việt mà là hậu thân của giống Phiên, Man".

Khi đã làm tể tướng, ông vẫn thường đến chơi nhà người Hoa kiều là Trần Đạo Chiêu, nói chuyện phiếm với nhau hàng giờ. Theo lệ cũ, sứ giả nước ngoài đến Thăng Long, tể tướng tiếp sứ không được cùng ngồi nói chuyện, phải thông qua một người phiên dịch, sợ hoặc có sự gi lầm lỗi thì đỗ cho người phiên dịch. Trần Nhật Duật thì không thế, mỗi khi tiếp sứ Nguyên đều nói chuyện trực tiếp, không muốn người phiên dịch. Đến khi sứ về nơi nghỉ thì dắt tay nhau cùng vào, ngồi uống rượu vui vẻ như bạn bè. Điều này chứng tỏ đặc tính con người nghệ sĩ của ông khi chúng ta biết rằng cách đó không lâu ông đã cầm quân chống Nguyên Mông Cổ xâm lăng. Trong số những người Tống đến ở Đại Việt có người phường hát tên Lý Nguyên Cát mang đến đất Việt lối “tuồng truyện”. Lý Nguyên Cát thường đến dinh của Trần Nhật Duật chơi, nơi mà “không ngày nào không mở cuộc hát xướng, làm trò”. Lối hát này sau được truyền vào cung vua và con của người đào hát tên Dương Nhật Lễ (con nuôi của thái tử đời vua Trần Minh Tông) được lên làm vua trong thời gian ngắn (4). Dương Ngọc Lễ suýt lật đổ triều Trần sớm hơn 30 năm, nếu không nhờ Trần Nghệ Tông rút về trấn Đà Giang nơi Trần Nhật Duật đã thu phục trước đây, để từ đó khôi phục lại ngôi vua cho nhà Trần.

Trần Nhật Duật là người nhã nhặn độ lượng, mừng giận không lộ ra sắc mặt. Trong nhà không hề chứa roi vọt để đánh đầy tớ. Cũng có khi ông đánh, thì trước hết kể tội lỗi rồi sau mới đánh. Mặc dầu tài hoa phóng khoáng nhưng trong việc nước ông rất trung thực và thẳng thắng. Việc nước và việc cá nhân là hai việc riêng biệt không thể để lẫn lộn. Vợ ông là Trịnh Túc phu nhân từng có việc nhờ cậy nói riêng với ông ở nhà. Ông giả tảng gật đầu. Đến khi ra phủ, người thư ký đem việc ấy trình với ông, ông không cho.

Để kết thúc về con người của ông, có một câu chuyện như sau. Có một lần có người kiện kẻ gia tỳ (người đầy tớ gái) của ông với Quốc Phụ (có lẽ là Huệ Vũ Đại Vương Trần Quốc Chân). Quốc phụ sai gia đồng đến bắt người đầy tớ. Cô đầy tớ gái chạy vào trong phủ tể tướng, người đi bắt đuổi đến nhà giữa, bắt trói, ầm ỉ. Vợ ông khóc nói: "Ông là tể tướng mà bình thường cũng là tể tướng, chỉ vì ông nhân nhu quá cho nên người ta mới khinh thường đến thế thôi". Trần Nhật Duật vẫn tự nhiên chẳng nói lại câu gì, chỉ khẽ sai người bảo người đầy tớ gái rằng:

"Mày cứ ra, đâu đâu cũng đều có phép nước."

Trần Nhật Duật xứng đáng là danh nhân Việt Nam, văn võ toàn tài, có thể được xem là ông tổ của ngành ngoại giao Việt Nam. Tuy làm đến chức tể tướng và thái sư nhưng không bao giờ tham lam quyền lực bởi vì sống trong lòng ông là một tinh thần nghệ sĩ độ lượng trong nét khảng khái và nhân hòa.

Tham khảo

(1) Trần Quốc Vương - Vũ Tuấn San, Hà Nội nghìn xưa, Sở Văn hóa thông tin Hà Nội – 1975
(2) G. Coedes, The indianized states of South-East Asia, East-West Center, Honolulu, 1968
(3) Cao Xuân Phổ, Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, (Bài trong Hội nghị Sử học Đông Nam Á, Kualua Lumpur 1982).
(4) Tạ Chí Đại Trường, Ả Trần, Mai Kiện, Hồi Hột – Phía khuất của Sử-được-kí, Talawas, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8768&rb=0302
(5) Lê Mạnh Thát, Vua Trần Nhân Tông Cuộc đời, tác phẩm và sự nghiệp, http://www.thuvienhoasen.org/u-nhantong-02.html
(6) Trần Nhật Duật – Lĩnh Nam dật sử, Nguyễn Tạo dịch từ Hán văn, tái bản, Nxb Trăm Việt, Oregon, USA.

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2019

Theo dấu chân Tù trưởng bảo vệ tấc đất, tấc rừng Amazon

Những con người sống vốn sống giữa tán cây gặp nhiều trở ngại hơn là lòng tham và súng đạn: những bệnh tật mới với họ, như bệnh lao, đậu mùa hay chỉ đơn giản là cúm thông thường đã khiến 5.000 thành viên bộ lạc tụt xuống dưới 300 người. 

Theo dấu chân tù trưởng Almir Narayamoga Surui, nhóm phóng viên tiến vào vùng đất hoang dại đang bị lòng tham tàn phá nặng nề. Vũ khí của người Surui là sự kiên trì, ảnh vệ tinh do Goolge cung cấp và smartphone.

Ở Amazon, nhóm người bản địa giỏi công nghệ nhất thế giới đang cứu lấy từng tấc rừng, bảo vệ lá phổi xanh cho toàn nhân loại - Ảnh 2.

Dựa theo bài viết của phóng viên gạo cội Dara Kerr được đăng tải trên CNET, với tư liệu được chụp bởi nhiếp ảnh gia nổi tiếng James Martin. Họ cùng nhau ghi lại câu chuyện cứu rừng của ông Almir Narayamoga Surui, một trong bốn tù trưởng của Người Chân Chính, tộc người thiểu số rành công nghệ nhất Trái Đất.

Lơ lửng phía trên bầu trời bang Rondônia thuộc Brazil, bạn sẽ thấy những tán cây xanh đen, chằng chịt vắt ngang những dải đất trống nhiều hình thù, đặt hỗn độn trên mặt đất. Một đường nước ngoằn ngoèo, tỏa nhánh kéo ngang chiều dài lục địa, bằng cách nào đó vẫn tìm được đường đi xuyên qua khoảng rừng rậm rạp và hoang dại.

Không mấy ai sẵn sàng xách balo lên và đi tới Rondônia, vậy mà tôi đang ngồi đây với nhiếp ảnh gia James Martin, trên một chiếc máy bay hướng tới một tiền đồn nhỏ đặt giữa khu vực biệt lập và nguy hiểm nhất thế giới. Chúng tôi đáp xuống một đường băng ngắn nằm len lỏi giữa đồng cỏ cao, với chiều dài chẳng hơn một khu phố nhỏ là mấy.

Bước khỏi máy bay, tôi diện kiến Almir Narayamoga Surui, tù trưởng của một trong 4 thị tộc thuộc bộ lạc Paiter-Surui - theo phương ngữ nghĩa là “Những Người Chân Chính, ấy là chúng tôi - the True People, we ourselves”. Có lẽ người Surui là nhóm người bản địa rành về công nghệ nhất, và ông Almir chắc hẳn là tù trưởng hiểu biết về thời đại mới nhất mà bạn có thể gặp.

Chính ông là người đầu tiên cộng tác với Google Earth, sử dụng ảnh vệ tinh của họ để theo dõi hoạt động phá rừng trái phép trong khu vực, bên cạnh đó tạo nên hệ thống bản đồ thông tin địa lý khu vực (GIS) để theo dõi sát sao các điểm nóng. Tù trưởng Almir còn ứng dụng dữ liệu smartphone trong kiểm soát việc săn bắn của các bộ lạc địa phương, đảm bảo rằng thợ săn không bắt về nhiều hơn số lương thực mà họ cần.

Những số liệu khô khan lại đóng một vai trò tối quan trọng trong việc sinh tồn của người dân bản địa cũng như chính khoảnh rừng mà họ đang gọi là nhà. Việc “chuyển đổi số” tới hồi năm 1969, khi bộ lạc Surui lần đầu tiên tiếp cận với thế giới văn minh, cũng là lúc việc phá rừng, dựng trang trại chăn nuôi gặp phải sự chống cự tỏa ra những tán cây cao.

Những con người sống vốn sống giữa tán cây gặp nhiều trở ngại hơn là lòng tham và súng đạn: những bệnh tật mới với họ, như bệnh lao, đậu mùa hay chỉ đơn giản là cúm thông thường đã khiến 5.000 thành viên bộ lạc tụt xuống dưới 300 người.

Dù họ đã sống tại Amazon trước cả khi vùng rừng nhiệt đới này trở thành một phần của Brazil, chính quyền sở tại không chính thức công nhận lãnh thổ của người Surui cho tới năm 1983. Đến cả vùng đất của người Surui cũng bị người ngoài đặt cho một cái tên khác, Mùng Bảy tháng Chín, theo mốc thời gian lần đầu tiên người Surui tiếp xúc với thế lực tàn phá tới từ bên ngoài.

Mùng Bảy tháng Chín rộng 2.500 km vuông, là một trong số vùng cây rậm rạp còn sót lại trong khu vực. Thập niên 80, rừng cây ở khu vực này bị thiêu rụi với tốc độ ngạt mùi khói, lượng rừng biến mất mỗi năm là 4.200 km2 vào năm 1978, 30.000 km2 vào năm 1988, 53.300 km2 vào năm 1998.

Ngày nay, tính trên toàn Amazon, Rondônia là bang có tốc độ mất rừng nhanh nhất. Đám cháy lớn đầu mùa khô năm nay, sự kiện vẫn đang thu hút sự chú ý của hàng triệu người trên thế giới, lại càng làm tình hình thêm xấu đi.

Mục đích của tù trưởng Almir không đổi suốt bao thập kỷ nay: giữ cho toàn bộ Mùng Bảy tháng Chín được vẹn toàn. Nhưng có những thế lực ngầm khác không muốn ông thành công.

Almir lên chức tù trưởng năm 1992, khi ông mới 18 tuổi. Người ông chắc nịch, to ngang; ông mang một khuôn mặt đậm chất Surui: đôi mắt nâu ấm áp đặt phía trên vành mũi rộng, tù trưởng có một bộ tóc đen dày, được chải gọn gàng, phủ lên cái đầu đầy lo lắng. Ông thường vận bộ cánh trẻ trung của áo phông và quần jean, trên cổ đeo một chuỗi vòng hạt truyền thống. Ông nói rằng sẽ dẫn tôi vào vùng Mùng Bảy tháng Chín để tận mắt chứng kiến người dân Surui đang phải chống lại những gì.

Công việc cao cả của ông Almir không đơn giản là bảo vệ vùng đất rừng quý giá hay giữ Rondônia khỏi con mắt dòm ngó của lòng tham, ông còn đang ra tay cứu cả nhân loại. Sự sống trên Trái Đất phụ thuộc ít nhiều vào rừng Amazon - rừng mưa nhiệt đới lớn nhất thế giới sản sinh ra tới 20% lượng oxy ta đang có, hút vào tới 2,2 tỷ tấn carbon dioxide mỗi năm. Một phép so sánh nhỏ: rừng Amazon đang hút vào lượng khí thải của 430 triệu xe thải ra suốt 365 ngày.



Rừng Amazon còn mang trách nhiệm điều hòa khí hậu Trái Đất. Theo nghiên của của các nhà khoa học tại Đại học Virginia, nếu như rừng nhiệt đới biến mất, nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng vọt, mưa trên Trái Đất sẽ diễn biến theo chiều hướng khó lường. Khi hạn hán trên diện rộng diễn ra, hậu quả sẽ trải dài từ nông nghiệp cho tới nước uống.

“Mối đe dọa đang gần hơn bao giờ hết”, đó là lời cảnh báo của Brian Hettler, giám đốc mảng công nghệ mới của Đội ngũ Bảo tồn Amazon - tổ chức phi lợi nhuận chuyên tâm vào bảo vệ rừng nhiệt đới và các nền văn hóa bản địa.

Tù trưởng Almir, nhiếp ảnh gia Martin và tôi khởi hành từ Cacoal trên chiếc xe địa hình Mitsubishi, với cửa sổ kính mờ để không ai từ bên ngoài nhìn được vào trong xe. Tại khu vực này, xe của ai cũng vậy. Chúng tôi tiến về phía Đông trên một con đường cao tốc hẹp, rồi bẻ lái rẽ vào một con đường đất, hướng lên phía Bắc.


Suốt nhiều cây số, đôi mắt chúng tôi rồi cũng quen với cảnh tượng những trang trại khô héo bao quanh bởi rào chắn; thỉnh thoảng ánh mắt tôi bắt gặp cây chuối, cây xoài hay cây cọ rủ bóng ven đường. Bên trong rào trang trại, những con bò gầy trơ xương đang tụ tập bên những hố nước nâu màu bùn. Thỉnh thoảng, cảnh tượng bụi bặm được tô điểm bởi những lán bê tông sơn màu sáng bán hàng tạp hóa ven đường.



Mất gần một giờ di chuyển, chúng tôi mới đi hết đoạn đường đất gập ghềnh. Ở đằng xa, một khối tối màu lừng lững trải ngang đường chân trời. Tới gần, tôi choáng ngợp bởi một bức tường rừng cao tới gần 60 mét. Những đoạn dây leo lớn quấn chằng chịt trên thân cây gỗ lớn, cố vươn lên thật cao để chạm được ánh sáng Mặt Trời nơi ngọn cây.


“Đây là rìa lãnh thổ”, tù trưởng Almir vừa nói, vừa dùng ngón tay vẽ nên một đường ranh giới vô hình.

Bước vào khu vực Mùng Bảy tháng Chín, không khí khô trở nên ẩm và dễ chịu hơn nhiều. Chúng tôi bỏ con đường gập ghềnh bụi lại đằng sau để tiến vào thế giới tự nhiên. Cuốc bộ khoảng 3km, chúng tôi tới một khu đất rộng được bao phủ bởi cây quýt, chuối, cà phê và cacao; hàng cây lớn bọc lấy ngôi làng ở giữa, âu yếm ôm lấy mái ấm của 75 người bản địa. Nơi đây có điện, có nước sạch, có cả trung tâm y tế và trường học như bao ngôi làng khác. Nhưng khối kiến trúc thu hút ánh mắt của bất kỳ ai đặt chân tới đây phải là cột Wi-Fi cao tương đương tòa nhà 12 tầng, là cầu nối người dân nơi đây với thế giới bề bộn ngoài kia.

Tù trưởng Almir giới thiệu tôi với Rone Mopidmore Surui, người theo dõi sát sao hoạt động săn bắn trong khu vực Mùng Bảy tháng Chín. Người Surui vẫn sử dụng cung tên để săn thú, bên cạnh đó sử dụng smartphone để theo dõi số lượng và loài thú họ bắn hạ; họ chủ yếu săn lợn hoang, tatu, chim và khỉ rừng. Để đảm bảo lượng thú rừng cân bằng, họ đã áp dụng cách thức kiểm soát hoạt động săn bắn này từ hồi 2010.



“Nếu không săn bớt thú rừng, chúng sẽ sớm trở thành động vật gây hại. Chúng ăn hết cả quả của người dân”, ông Rone nói. “Quan trọng là phải đảm bảo săn vừa đủ và cũng không quá ít để kiểm soát chặt chẽ số lượng loài trong khu vực”.

Đều đặn mỗi tháng, Rone và 20 người khác tiến hành khảo sát từng thợ săn trong bộ lạc. Họ thu thập dữ liệu về độ tuổi con mồi, giới tính và cân nặng của chúng, bên cạnh đó là cách thợ săn bắn hạ con vật. Họ cần biết mục đích của thợ săn là gì, để kiếm thực phẩm, thuốc men hay đồ thủ công mỹ nghệ. Đội khảo sát đưa toàn bộ dữ liệu có được vào ứng dụng di động, để tổng hợp thành bức tranh toàn cảnh của đời sống hoang dã trong khu vực Mùng Bảy tháng Chín.

Đêm xuống, Almir cùng Rone ngồi lại trò chuyện với một số người trong làng. Một tay đập muỗi, một tay cầm smartphone, họ ngồi kể chuyện cho nhau nghe bằng tiếng bản địa Tupi-Monde, ở góc gần, một cậu bé Surui đang xem video về Batman trên YouTube.



Tôi hỏi ngay: “Ta có thể tới đó không?”. Ông gạt đi: “Anh chỉ có thể xem ảnh thôi. Đến đó nguy hiểm lắm”. Nhưng ông cũng nói thêm về một buổi đi tuần sắp diễn ra trong vài ngày tới, nhóm tuần tra sẽ tiếp cận khu vực lân cận mỏ vàng trái phép vào ban đêm.



Năm nay tù trưởng 44 tuổi, ông dành phần lớn thời gian, từ ngày trẻ tuổi sung sức tới thời điểm hiện tại, để kêu gọi chính phủ Brazil cũng như các tổ chức quốc tế hãy tập trung giải quyết nạn phá rừng đang ngày một nan giải. Năm 2011, ông đã có dịp diện kiến cựu Tổng thống Bill Clinton; ông còn là cái tên thân thuộc với những người có vai vế như cựu Phó Tổng thống Al Gore, Charles - hoàng tử xứ Wales, nhà linh trưởng học và nhân loại học Jane Goodall, ... Ông là người Surui đầu tiên được học Đại học, và nỗ lực học hành đã mang về cho ông tấm bằng cử nhân ngành sinh học tại Đại học Liên bang Goiás.


Năm 2003, khi vẫn đang tìm hiểu về thế giới rộng lớn của Internet, ông Almir biết tới sự kỳ diệu của Google Earth. Almir ngay lập tức “tìm đường về quê”, mở bản đồ vệ tinh khu vực Rondônia và zoom tới khu vực Mùng Bảy tháng Chín. Almir đứng hình trước những gì hiện lên trước mắt ông: khu vực sinh sống nhỏ bé của người Surui bị bao vây bởi nạn phá rừng. 

Bốn năm sau, ông cất công tới gặp Rebecca Moore, trưởng dự án Google Earth đang công tác tại khu vực Mountain View, California. Tù trưởng Almir không tới đây để tìm kiếm sự giúp đỡ, ông đưa ra một đề nghị mà Google khó có thể khước từ.


“Ông tới để đặt đề nghị hợp tác. Ông đã nói rằng ‘các anh có công nghệ hiện đại, còn chúng tôi hiểu rõ về khu rừng địa phương”, bà Moore nhớ lại. Ông Almir nói rằng Google Earth sở hữu rất nhiều thông tin về địa lý thành phố lớn, nhưng chẳng có chút thông tin nào về người thiểu số đang ẩn mình trong rừng sâu.

“Những gì ông ấy đã nhắc tới không chỉ đúng với người Surui. Đây là vấn đề chung của mọi tộc người bản địa tại khu vực Amazon”, bà Moore nói.



Mọi chuyện đã khác xưa, ông Almir nhận hình ảnh vệ tinh mới của khu vực Mùng Bảy tháng Chín hàng tháng, và đội ngũ Google Earth đã hướng dẫn tận tình cách sử dụng công cụ đo đạc bản đồ. Các chuyên gia công nghệ còn làm được nhiều hơn thế: họ thêm vào bản đồ khu vực những thông tin về văn hóa, lịch sử người Surui, người dùng có thể zoom vào để nhìn tận mắt cây cối, thú hoang trong khu vực.

Bộ lạc Surui chỉ là sự khởi đầu. Hiện tại, Google Earth đã đang cộng tác với 57 bộ lạc trên khắp Amazon cùng với hàng chục cộng đồng người thiểu số trên toàn thế giới. Toàn bộ 472 lãnh thổ của người bản địa trên đất Brazil đều đã được “lên sóng”.

Những nỗ lực cứu rừng của tù trưởng Almir đã đưa ông vào tầm ngắm của lâm tặc. Tâm 2007, những kẻ phá rừng bất lương ra giá 100.000 USD cho mạng sống của ông Almir, áp lực lên chính sự sống còn của người đại diện cho tộc Surui đã khiến ông phải rời vùng đất quê hương suốt nhiều tháng. Năm 2011, bổn cũ soạn lại, một lần nữa ông phải rời quê hương đi lánh nạn. Đến chừng nào tù trưởng Almir còn lên tiếng bảo vệ rừng cây và văn hóa dân tộc, mạng sống của ông còn bị đe dọa.

“Đây là thời điểm khó khăn cho vô số những nền văn hóa trong khu vực Amazon”, bà Moore nói. “Những con người này bảo vệ rừng nhiệt đới, bảo vệ lá phổi Trái Đất cho tất cả chúng ta. Vậy nên ai cũng phải có trách nhiệm giúp họ bảo vệ lấy rừng, bảo tồn nền văn hóa của người thiểu số”.




Khu vực Mùng Bảy tháng Chín có tổng cộng 27 làng mạc, đa số chúng nằm co cụm lại tại rìa Đông Nam lãnh thổ Rondônia. Chúng tôi sẽ tiến hành đi tuần ở khu vực cách Lapetanha - làng trung tâm của người Surui khoảng 150km. Khu vực hẻo lánh này không người sinh sống, chỉ có rừng và một con đường độc đạo dẫn sâu vào nguy hiểm.

Để tới được đó, chúng tôi khởi hành từ đường quốc lộ 364 của Brazil - con đường chạy dọc miền Nam sống Amazon, tính từ biên giới Peru tới bờ biển São Paulo. Con đường liên quốc gia này được khởi công vào năm 1961, là một phần của kế hoạch phát triển kinh tế lưu vực sông Amazon.

Đến năm 1980, nửa triệu người đã di cư tới khu vực này. Nhưng đi cùng với con người là nạn phá rừng bừa bãi, dưới danh nghĩa “chế ngự tự nhiên để tồn tại”. Mất rừng, mất đất, người dân bản địa phải rút dần vào rừng sâu.

Trước khi quốc lộ 364 xuất hiện, gần như toàn bộ khu vực Rondônia và Mato Grosso được phủ rừng mưa nhiệt đới và theo khảo sát của Liên Hợp Quốc lúc bấy giờ, gần như toàn bộ khu vực này là nhà ở của các nhóm người bản địa.

Có thể bạn biết tới khu vực này trong câu chuyện của năm 1914, khi cựu Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt - chính trị gia kiêm nhà văn, nhà tự nhiên học đã cùng nhà thám hiểm nổi tiếng người Brazil, Cândido Mariano da Silva Rondon khám phá rừng Amazon. Nhóm người dũng cảm dấn thân vào một trong những chuyến hành trình nguy hiểm nhất Trái Đất; vùng đất chưa được khai phá nổi tiếng với trăn khổng lồ, lươn điện, cá ăn thịt piranha và loài vật nguy hiểm nhất thế giới - muỗi. Tổng thống Roosevelt đã suýt bỏ mạng nơi đây vì nhiễm trùng.

Tù trưởng Almir dẫn chúng tôi rời đường cái, di chuyển trên một con đường hẹp đi qua Ministro Andreazza, một thị trấn nhỏ với dân số chỉ 11.000 người. Nơi đây là một tiền đồn bụi bặm được tô điểm bởi quầy đồ ăn vặt, cửa hàng tiện lợi và các tiệm sửa xe. Rìa thị trấn là nơi đặt các nhà máy xử lý gỗ, những khối gỗ lớn liên tục được chuyển về đây, từ từ được biến thành những ván gỗ lớn.

“Thị trấn này là nơi ở của những người phá rừng”, tù trưởng Almir nói. “Chúng tôi đã nhiều lần phải tranh chấp đất đai với những người nơi đây”.

Người dân Ministro Andreazza vẫn lẻn vào khu vực Mùng Bảy tháng Chín để săn bắn, câu trộm và chủ yếu để chặt cây. Mục tiêu của họ là cây hạch Brazil, một loài cây mọc thẳng đứng một cách cận hoàn hảo và có thể cao tới 60 mét. Lâm tặc chặt cây lấy gỗ nhiều tới mức hạch Brazil đã là loài thực vật bị đe dọa, luật pháp Brazil cấm người ta khai thác loại gỗ này. Thế nhưng những con chữ trên giấy không ngăn được lòng tham của kẻ đứng ngoài vòng luật pháp.

“Hầu như chẳng có cảnh sát trong khu vực này”, tù trưởng Almir nói.

“Tĩnh mạng ông gặp nguy hiểm mỗi khi đi qua khu vực này đó nhỉ?”, tôi hỏi.

Tù trưởng im lặng, gật đầu đồng ý và tiếp tục cho xe chạy về phía trước.



Con đường chạy qua Ministro Andreazza nhanh chóng mờ mịt bụi, bốn bánh chiếc Mitsubishi đã phải chạy trên đường đất suốt vài kilomet qua. Hai bên đường, trang trại chăn nuôi trải dọc sườn đồi, bò trắng thong dong gặm cỏ trong bóng râm. Trong yên bình là vậy, nhưng chúng tôi đang đi trên vùng đất với lịch sử đen tối: đa số đất khu vực này đổi chủ bởi bạo lực và đổ máu.


Mùng Bảy tháng Chín vẫn đối mặt với nạn lâm tặc từ bao đời nay, sự thể càng tệ hơn khi 5 năm trước, người ta phát hiện ra mỏ vàng và kim cương trong khu vực. Một số người của tộc Surui còn tiếp tay cho người ngoài, chỉ ra chính xác địa điểm những mỏ khoáng sản trong khu vực.

Hình ảnh vệ tinh do Google Earth gửi về hàng tháng chỉ giúp người Surui biết được rừng đã bị tổn hại ở đâu chứ không thể giúp được họ đối phó với tình hình cấp bách. Có một hệ thống khác làm những việc đó, là Google Earth Engine.



“Những gì họ cần trong cách tình huống như vậy là một hệ thống cảnh báo gần thời gian thực có thể gửi về hình ảnh tại chỗ, dữ liệu mới và phát hiện được xem khu vực rừng nào có thay đổi”, bà Moore nói.

Đây là cách Google Earth Engine hoạt động: Google cộng tác với những tổ chức theo dõi rừng nhiệt đới, đơn cử như tổ chức phi lợi nhuận Imazon hay Global Forest Watch, cung cấp cho họ sức mạnh tính toán để xử lý lượng dữ liệu khổng lồ. Hệ thống Google Earth Engine nhanh chóng phát hiện ra khu vực rừng bị xâm lấn bởi thế lực bên ngoài, rồi các tổ chức liên kết sẽ ngay lập tức cảnh báo cho người dân địa phương.


Có nhiều lý do khiến người ta phá rừng. Việc tàn phá Amazon khởi nguồn từ khi người ta dựng đồn điền cao su và khai thác khoáng sản hồi năm 1900, rồi chuyển sang du canh du cư, đốt rừng làm rẫy hồi thập niên 78-80. Hiện tại, phần lớn cây rừng bị chặt bỏ để lấy đất chăn nuôi, trồng đậu và bông.


Rondônia là nơi hứng chịu hậu quả nặng nề nhất. Tính tới năm 2010, 42% diện tích rừng mưa nhiệt đới địa phương đã biến mất, và con số đáng lo ngại chưa dừng tại đó. Thông số do Imazon cung cấp cho thấy tỷ lệ rừng bị chặt phá trong tháng Bảy năm 2018 cao nhất trong khoảng 10 năm trở lại đây.

Lượng rừng còn lại quá ít ỏi, lâm tặc chẳng ngần ngại xâm lược khu vực sinh sống của người bản địa để tìm kiếm của cải. Họ tấn công cả rừng, cả người dân đang sinh sống dựa vào những tán cây già cỗi.

“Không có đất, không có rừng, văn hóa bản địa sẽ không thể được như xưa nữa”, giám đốc Hettler nói. “Người dân địa phương và rừng có một mối liên kết không thể tách rời”.


Năm 2016, tù trưởng Almir gửi đi lá thư cầu cứu người dân toàn thế giới.

"Tính từ đầu năm nay, chúng tôi đã bị xâm lược bởi lâm tặc, dân đãi vàng và dân đào kim cương, Mỗi ngày, phải tới 300 xe tải chở đầy gỗ rời khu vực chúng tôi sinh sống". Trong lá thư gửi tới thế giới bên ngoài, tù trưởng Almir còn nói về việc nước trong 3 con sông chảy qua khu vực mỏ đã nhiễm thủy ngân và xyanua.




Sau 4 tiếng di chuyển trên đường đất, băng qua một loạt xe tải chở chỗ, chúng tôi cũng đến cuối con đường. Không còn đường tiến về phía trước nữa, chỉ còn một đồng cỏ rộng đầy dấu chân người giẫm đạp, một hình chữ thập tạo thành từ hai cành cây khô bắt chéo nhau ra dấu cho chúng tôi rằng không còn đường đi nữa. Tù trưởng Almir đạp ga kéo chiếc Mitsubishi lên một con đồi nhỏ, tiến vào rừng sâu, ông đỗ xe đủ xa để tán cây rậm rạp che được chiếc xe lớn.

Chúng tôi xuống đi bộ. Trời lúc này đã tối, không khí nóng bức ngột ngạt chen chúc âm thanh ồn ào chào đón ba người chúng tôi.



Rừng Amazon không phải nơi người ta tìm tới để tĩnh tâm giữa thiên nhiên kỳ vĩ. Khu rừng như một thực thể sống, liên tục di chuyển, hoán đổi và vươn lên bằng sức sống vĩ đại. Cành mục, quả cây rơi xuống liên tục tạo nên âm thanh của một cơn mưa lớn. Động vật trong rừng không con nào chịu nằm yên, mỗi loài góp một tiếng kêu riêng, tạo nên một dàn đồng ca rợn tóc gáy, không gian tràn ngập những âm thanh chưa được - và cũng không muốn - con người chế ngự.

Ba người chúng tôi cũng đã đến được chỗ cắm trại của nhóm tuần tra, đội ngũ 28 chiến sĩ bảo vệ rừng đã treo võng nghỉ ngơi tại đây từ lâu, súng của họ gối đầu vào cây cách đó không xa. Từ màn đêm rậm rạp, một người vén cây tìm tới chỗ chúng tôi từ một chỗ cắm trại không xa, mang tới một con chim lông xám mà cung tên trên vai anh vừa bắn hạ. Sự hiện diện của con chim thay cho câu thông báo bữa tối đã điểm.



Sáng hôm sau, chúng tôi tiến hành đi tuần trên chiếc bán tải của tù trưởng Almir, đi cùng chúng tôi là ba người Surui được trang bị vũ khí. Con đường mòn xe đi bị phủ kín bởi cỏ cao đến vai người, thỉnh thoảng, một chiến sĩ Surui phải nhảy khỏi xe để phát cỏ mở đường. Đã có lúc, chúng tôi như bò trên đường, len lỏi chậm chạp trên con đường nhỏ.

“Đây là đường đi của lâm tặc đó”, tù trưởng nói, tiếp tục đưa xe tiến về phía trước.

Mất một tiếng di chuyển, chúng tôi tới một bãi đất trống, với những gốc cây bị chặt rải rác đó đây. Dường như đây là một khu cắm trại của ai đó.

“Vị trí này là chỗ nghỉ của bọn xâm lược, không phải người bản xứ”, ông Almir nói.

Cuối cùng chúng tôi cũng tới được Rio Branco, một trong những con sông chính chảy ngang qua khu vực Mùng Bảy tháng Chín. Những phiến đá núi lửa lớn, bề mặt phẳng phiu nằm dọc bờ sông nâu màu nước, đủ chỗ để một người đứng thoải mái trên đó. Tù trưởng Almir dẫn đầu đoàn tuần tra, nhảy lên từng phiến đá để di chuyển dọc bờ sông, cố gắng phát hiện ra dấu vết của hoạt động trái phép trong khu vực. Họ tìm thấy một vỏ lon bia bị vứt lại, đó là bằng chứng rõ ràng cho thấy đã có lâm tặc đi qua nơi đây, bởi lẽ chính phủ cấm lưu hành đồ uống có cồn tại địa phương.

Ông Almir nói rằng họ càng thu thập được nhiều bằng chứng về hoạt động phá rừng trái phép, chính quyền sẽ càng khó có thể làm ngơ. Đó là lý do người Surui học cách sử dụng công cụ công nghệ cao, họ muốn có đủ bằng chứng để tạo dựng được một vụ kiện hoàn chỉnh.

Bộ lạc Surui sở hữu một văn phòng tại Cacoal, tại đây họ có thể gặp mặt và học cách sử dụng máy tính. Một nhóm nhỏ nhận trách nhiệm đưa dữ liệu nhận về từ Google Earth và tổng hợp bằng chứng có được từ các buổi đi tuần vào các bản đồ GIS khác nhau. Rồi họ sử dụng những bản đồ đánh dấu hoạt động khai thác rừng trái phép cho các tổ chức quốc tế về môi trường và con người.

Mất 5 năm dài để người Surui có được bản đồ này: họ đã phải đi từng mét vuông của Mùng Bảy tháng Chín, đánh dấu mọi vị trí rừng bị phá, từng nhánh sông có dấu chân người xâm phạm, từng địa điểm cắm trại và mỏ trái phép.

“Chúng tôi chưa bao giờ sở hữu một bản đồ chứa đựng từng ấy thông tin, có thể dùng công nghệ hiện đại để cập nhật từng ngày”, tù trưởng Almir nói. “Đây đã trở thành công việc cần làm hàng ngày. Nếu không giải quyết những mối nguy tới rừng này, chúng sẽ lớn dần lên thành những vấn đề nghiêm trọng”.



Trên đường về Cacoal, thật khó để tưởng tượng ra rừng rậm một thời phủ lên những đồn điền khô cằn. Tù trưởng Almir hướng ngón tay tới một cây cao đứng một mình giữa đồng, với thân thẳng đứng một cách kỳ diệu, như một mũi tên chỉ thẳng lên trời cao.

“Đó chính là cây hạch Brazil. Nó là ‘người bản địa’ duy nhất còn tồn tại nơi đây”. Ông ước tính cây hạch này đã được 80 năm tuổi. Trên thực tế, hạch Brazil thọ được tới 800 tuổi, đáng buồn là cái cây đơn độc này có thể sống lâu được đến thế.


Dù công việc của Almir chỉ là cố giữ lấy Mùng Bảy tháng chín, ông vẫn hiểu rõ tầm quan trọng của toàn bộ hệ sinh thái Amazon với toàn nhân loại. Ông mong muốn việc người Surui ứng dụng công nghệ vào việc bảo vệ rừng sẽ là tấm gương để mọi tộc người thiểu số khác noi theo. Người Surui bản địa cũng không dừng lại tại đó, tại việc đánh dấu đỏ lên bản đồ mỗi khi có kẻ đến phá rừng, họ còn cố gắng trồng cây để bù lại những cây gỗ im lìm bất lực khi bị xé khỏi rừng già.

Dự án 50 năm trồng cây, khởi động từ năm 1997, đã chứng kiến 700.000 cây mới được trồng; người Surui trám vào những vùng Mùng Bảy tháng Chín bị chặt phá những cây gụ, cacao, cọ açaí, cây Copaiba và hạch Brazil. Mục đích của họ là trồng được 1 triệu cây cho vùng đất đang bị tàn phá.



Rừng không phải thứ duy nhất tái sinh dưới bàn tay chăm sóc của người Surui, những người bản xứ cũng đã dần lấy lại số lượng xưa kia. Ngày nay, bộ lạc Surui có khoảng 1.400 thành viên, tăng nhiều từ thời điểm mùng Bảy tháng Chín xưa kia.

Tôi mạn phép hỏi tù trưởng Almir liệu việc gặp gỡ “người ngoài” xưa kia có phải là một điều tốt? Ông trả lời:

- Mọi thứ đều có tác động tới nhau. Chẳng có thứ gì tồn tại mà không ảnh hưởng được đến ai cả.

Ông trầm ngâm một chút, rồi nói tiếp:

- Việc gặp gỡ các anh ngày xưa là tốt. Chúng tôi vẫn chưa biến mất đó thôi.

Tù trưởng tin rằng nếu không có ngày định mệnh ấy, người Surui sẽ bị tuyệt diệt bởi lòng tham của người ngoài, khi họ liên tục mang bạo lực tới tàn phá khu vực rừng. Giờ họ đã có khu vực sinh sống riêng, sở hữu những công nghệ hiện đại để bảo tồn những giá trị của rừng già, giữ lấy cho con cháu đời sau một tương lai sáng.

Theo Dink thiết kế Tom / Tri Thức Trẻ

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2019

Công trình "4 KHÔNG" tại Mã Pí Lèng, việc đã rồi gây nhiều náo động

Công trình Panorama “bốn không” ở Mã Pí Lèng, Hà Giang mở ra tầm nhìn hiếm có cho các du khách, nhưng câu chuyện về nó cũng đang đặt ra những đòi hỏi về trách nhiệm đến cùng và tầm nhìn xa hơn, rộng hơn của các cơ quan quản lý.

Trong diễn biến mới nhất liên quan, ngày 8/10, UBND tỉnh Hà Giang cho biết đã có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ về công trình nhà nghỉ, nhà hàng Panorama xây dựng trái phép tại đèo Mã Pì Lèng, huyện Mèo Vạc.

Kết quả hình ảnh cho Công trình Panorama

Cho đến nay, nhiều ý kiến đã chỉ ra rằng, đây vẫn là công trình “4 không”: Không có Giấy chứng nhận đầu tư, không được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không có giấy phép xây dựng, và không có văn bản thẩm định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL).

Nay, báo cáo do Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang Nguyễn Văn Sơn ký đã nêu rõ, công trình này nằm ngoài khu vực bảo vệ I và II của danh lam thắng cảnh Mã Pì Lèng. Tuy nhiên, theo Điều 36, Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, công trình này có khả năng ảnh hưởng đến cảnh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái của danh thắng Mã Pì Lèng. Do đó cần có ý kiến thẩm định bằng văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Về hồ sơ công trình nhà nghỉ, nhà hàng Panorama chưa có cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép đầu tư và cấp phép xây dựng. UBND tỉnh Hà Giang xác định trách nhiệm ban đầu thuộc UBND huyện Mèo Vạc trong công tác quản lý quy hoạch và đầu tư xây dựng.

Để xác minh cụ thể vụ việc trên, hiện UBND tỉnh Hà Giang đã chỉ đạo các cơ quan chức năng của tỉnh tổ chức kiểm tra công trình xây dựng tại khu vực Mã Pì Lèng, yêu cầu báo cáo UBND tỉnh trước ngày 9/10/2019.

Quan điểm và phương hướng giải quyết vấn đề này của UBND tỉnh Hà Giang là không bao che sai phạm và kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có liên quan. Đồng thời khắc phục những sai phạm trong xây dựng công trình nhà nghỉ, nhà hàng Panorama tại khu vực Mã Pì Lèng theo đúng các quy định của pháp luật. Đặc biệt, đối với các vấn đề xác định ảnh hưởng cảnh quan, môi trường, UBND tỉnh Hà Giang báo cáo xin ý kiến của Bộ VHTT&DL và mời các chuyên gia đánh giá giúp làm cơ sở để xử lý các vi phạm theo quy định.

Hình ảnh có liên quan

Trước đó, Bộ VHTT&DL cũng đã có thông tin chính thức liên quan đến công trình này. Tương tự như quan điểm của UBND tỉnh Hà Giang, Cục Di sản văn hóa cũng cho rằng việc xây dựng công trình nói trên không thuộc khu vực khoanh vùng bảo vệ khu vực I và khu vực II của di tích, không phải công trình bảo vệ và phát huy giá trị của di tích, do đó, phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật về xây dựng và các quy định liên quan.

Tuy nhiên, Điều 36, Luật Di sản văn hóa quy định: “Khi phê duyệt dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di tích quy định tại Điều 32 của Luật này mà xét thấy có khả năng ảnh hưởng xấu đến cảnh quan thiên nhiên và môi trường – sinh thái của di tích thì phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch”.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng khẳng định, cho đến trước khi vụ việc trở nên “nóng” trong dư luận, Bộ vẫn chưa nhận được bất kỳ văn bản nào của tỉnh Hà Giang đề nghị có ý kiến thẩm định đối với công trình xây dựng tại khu vực đèo Mã Pì Lèng.

Tại cuộc họp báo sau đó, Chánh Văn phòng Bộ VHTT&DL Nguyễn Thái Bình cho biết thêm, theo quan điểm của Bộ, bất cứ công trình nào, nằm trên địa điểm du lịch hay trên toàn lãnh thổ Việt Nam, nếu xây dựng trái phép thì cũng sẽ phải bị xử lý nghiêm. Cũng trong ngày 8/10, Đoàn công tác của Bộ do Cục Di sản văn hoá chủ trì đã lên Hà Giang thanh, kiểm tra việc xây dựng công trình trên.

“Các di tích, di sản văn hoá cần phải có biện pháp bảo vệ, tránh những nguy cơ bị ảnh hưởng tiêu cực”, ông Nguyễn Thái Bình khẳng định. Dù là công trình có tính chất khuyến khích, thúc đẩy du lịch phát triển nhưng không tuân thủ quy định pháp luật, Bộ không ủng hộ. “Chúng ta phải có biện pháp, hình thức bảo vệ tốt nhất danh lam thắng cảnh quốc gia Mã Pì Lèng”, ông Bình nói.

Kết quả hình ảnh cho Công trình Panorama

Như vậy, các cơ quan có liên quan đều đã thể hiện quan điểm rất rõ ràng về tính chất của vụ việc cũng như hướng xử lý. Tuy nhiên, việc xử lý cụ thể đối với công trình Panorama này vẫn đang tiếp tục thu hút những ý kiến khác nhau, không chỉ từ khía cạnh pháp lý rằng người dân, doanh nghiệp được làm gì và không được làm gì, mà còn từ khía cạnh kiến tạo phát triển: Cơ quan nhà nước nên và cần phải làm gì để xử lý bài toán khó là hài hoà lợi ích giữa bảo tồn và phát triển, gìn giữ di sản và phát triển du lịch?

Câu chuyện về công trình Panorama trước hết đặt ra vấn đề về kỷ cương, kỷ luật, về trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương trong quản lý xây dựng. Nếu các quy định hiện hành được thực hiện nghiêm túc ngay từ đầu thì rất khó để “con voi chui lọt lỗ kim” và cơ quan quản lý cũng không phải đau đầu tìm cách xử lý “việc đã rồi” như hiện nay.

Xa hơn, câu chuyện ở Mã Pí Lèng đặt ra vấn đề về tầm nhìn phát triển. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã nêu thông điệp mạnh mẽ về tinh thần “kiến tạo phát triển” và điều đó đòi hỏi các cấp, các ngành cần chủ động, sáng tạo, quyết liệt hơn nữa.

Nói riêng ở Mã Pí Lèng, cung đường đèo nổi tiếng này vẫn chưa có điểm dừng chân ngắm cảnh toàn cảnh hẻm vực Tu Sản, Mã Pì Lèng và cuối năm 2018, theo báo cáo của tỉnh Hà Giang, Giáo sư Guy Martini, Tổng Thư ký Ban điều phối Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO đã khuyến nghị tỉnh Hà Giang xây dựng điểm dừng chân phục vụ du khách tại chính khu vực xây dựng nhà nghỉ, nhà hàng Panorama nêu trên. Tuy nhiên, một việc có thể nói là không quá khó và cũng không quá lớn như vậy lại chưa được quan tâm đúng mức, với cách làm phù hợp.

Cuối tháng 7 vừa qua, dự một hội nghị về di sản do Bộ VHTT&DL tổ chức, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh, chúng ta phải quán triệt tinh thần “cái gì cũng có thể xây được, sản xuất được, sáng tác được nhưng di sản thì không thể tạo ra được”. Mặt khác, chúng ta có nhiệm vụ làm di sản luôn hồi sinh và tồn tại có ích, rằng phải luôn sáng tạo, năng động để di sản có giá trị trong cuộc sống của thế hệ hiện tại, di sản không phải là di sản chết mà phải đóng góp vào phát triển bền vững.

Rõ ràng, các cấp chính quyền cần hết sức năng động và sáng tạo để giải quyết các bài toán rất cụ thể được cuộc sống đặt ra hằng ngày, hằng giờ.

Hà Chính
Theo Chinhphu.vn

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2019

Shark Nguyễn Mạnh Dũng đấu giá ăn trưa cùng 10 cá nhân tiêu biểu để ủng hộ Quỹ hỗ trợ phát triển công nghệ cho người mù.

Sau 4 ngày tiến hành đấu giá, mới đây, trên trang Facebook cá nhân, Shark Nguyễn Mạnh Dũng đã tìm ra những người thắng cuộc cuối cùng trong khuôn khổ chương trình #GivingLunch, #GivingDinner, đấu giá "bữa ăn gieo yêu thương" để ủng hộ Quỹ hỗ trợ phát triển công nghệ cho người mù.

Theo đó, 10 cá nhân trả giá cao nhất đến từ 6 thành phố khác nhau sẽ có cơ hội ăn trưa hoặc ăn tối cùng với "cá mập" trong làng công nghệ Việt Nam. Dẫn đầu là một cá nhân đến từ Hà Nội, người sẵn sàng chi tới 140 triệu đồng để đi ăn cùng Shark Dũng. Tiếp sau là mức giá 128 triệu đồng do một nhân vật đến từ TPHCM bỏ ra. Ngoài ra, hai ca nhân chiến thắng khác cũng đồng ý đóng góp mỗi người 120 triệu để có cơ hội ăn uống, trò chuyện cùng Shark.



Bất ngờ hơn, Shark Dũng công bố chỉ sau 4 ngày, tổng số tiền quyên góp từ chương trình trên đã lên tới 1 tỷ đồng, bao gồm 200 triệu góp trực tiếp và 856 triệu góp qua đấu giá bữa ăn. Số tiền này tương đương với khoản chi phí để đào tạo và mua thiết bị học tập cho 198 người mù.

Theo tiết lộ từ Shark Dũng, ngay khi kết quả công bố, những người thắng cuộc đã nhanh chóng chuyển khoản trực tiếp cho chương trình. Shark sẽ bay đến các thành phố để gặp trực tiếp những người thắng cuộc trong tháng 10 này.

Tại Việt Nam gần đây, tương tự với chương trình đấu giá bữa ăn trưa cùng tỷ phú Warren Bufett, những người thành công trong giới kinh doanh đã cùng nhau tham gia vào một chương trình khác với tên gọi Giving Lunch do CEO Seedcom Nguyễn Hoành Tiến khởi xướng.

Cách tổ chức chương trình cơ bản gồm 4 bước. Các nhân vật nổi tiếng trong giới kinh doanh sẽ đăng tải thông tin về lời mời ăn trưa lên Facebook cá nhân. Sau đó, những người tham gia đấu giá sẽ cùng ra giá bằng cách bình luận ngay bên dưới lời mời. Sau thời gian hạn định, những người có giá cao nhất sẽ giành được suất ăn trưa cùng host (người đứng ra kêu gọi).

Chương trình đã thu hút sự tham gia của nhiều tên tuổi trong giới kinh doanh, khởi nghiệp như Chủ tịch HĐQT Seedcom Đinh Anh Huân, Chủ tịch 24h Phan Minh Tâm, Phó Tổng giám đốc, phụ trách Marketing Biti’s Hùng Võ, nhà sáng lập Liti Florist Phượng Nguyễn,...

Theo Nhật Anh
Trí Thức Trẻ

Bài đăng gần nhất